Thứ Hai, 31 tháng 3, 2014

GÜNTHER ANDERS : “TRIẾT HỌC NGẪU NHIÊN” VỚI MỤC ĐÍCH PHÊ PHÁN VÀ THỰC HÀNH


REINHARD ELLENSOHN(*)


Triết gia, nhà văn Áo: Günther Anders

 Sau mấy lời giới thiệu ngắn về “cuộc đời và sự nghiệp” của Anders cùng một số quan niệm chính về triết học của ông, tôi sẽ tập trung vào chủ đề: “Anders với tư cách một triết gia Áo” dựa vào tạp chí triết học của ông: “Wiedersehen and Vergessen” - “Trở lại và Quên lãng” và cuối cùng là về “philosophie engagée” – “Triết học dấn thân” được thể hiện qua sự phản đối của ông đối với cuộc chiến tranh ở Việt Nam [do Mỹ tiến hành] trong những năm 60 và 70 của thế kỷ XX.

***

Đầu tiên cho phép tôi được điểm qua “địa hạt” (estate) văn học của Anders, được lưu giữ trong thư mục lưu trữ văn học thuộc Thư viện quốc gia Áo tại thành phố Viên. “Địa hạt” này rất phong phú, bao gồm các bản viết tay và đánh máy, có tác phẩm đã hoàn thành, cũng có tác phẩm còn dang dở, các bản thảo, thư từ trao đổi của ông với đông đảo các nhà trí thức hàng đầu của thế kỉ hai mươi. Công tác lưu trữ này sẽ được tiến hành một cách bài bản trong khuôn khổ một dự án khoa học do quỹ khoa học Áo hỗ trợ, được Konrad Paul Liessmann (Khoa triết học, Đại học Viên) và Bernhard Fetz (Thư khố văn học thuộc Thư viện quốc gia Áo) thực hiện.

1.       Giới thiệu: “Triết học ngẫu nhiên” và “Triết học của sự khác biệt”
Günther Anders triết gia - nhà văn Áo, còn có tên gọi khác là Gunther Stern, sinh năm 1902 ở thành phố Breslau thuộc Đức (nay là Wroclaw – thủ đô của Ba Lan). Gunther Stern là con trai của nhà tâm lý học nổi tiếng William Stern, ông qua đời năm 1992 tại Viên. Cuộc đời và sự nghiệp của  ông phản ánh những gián đoạn và mâu thuẫn sâu sắc trước sự tác động trực tiếp hiếm thấy của thế kỷ 20. Tác phẩm của Günther Anders mang tính liên ngành và sự mở rộng tới các chủ đề lớn. Vì vậy rất khó để phân loại các tác phẩm của ông. Anders đảm nhiệm rất nhiều vai trò khác nhau, như nhà phê bình kỹ nghệ, nhà lý thuyết văn hóa và truyền thông, đồng thời là nhà phê bình văn học nghệ thuât và là một triết gia âm nhạc, hơn thế, ông còn là nhà hoạt động chính trị; và cuối cùng, ông là tác giả của tạp chí triết học, là tác giả viết truyện ngắn, truyện ngụ ngôn, thơ ca và tiểu thuyết. Khởi đầu từ trường phái triết học của Husserl và Heidegger, nhưng tư tưởng của ông sau này hoàn toàn không giống với tư tưởng của Heidegger. Kant, Hegel, Marx, và Georg Simmel là những người đã truyền cho ông cảm hứng nhiều nhất. Mặc dù dành nhiều ưu ái hơn cho lý luận phê phán nhưng ông chưa bao giờ là thành viên của trường phái Frankfurt và ông  tự nhận mình là học giả phi hàn lâm giống như Kierkegaard, Nietzsche, Feuerbach, Marx.
Günther Anders tự coi tư tưởng triết học của mình là “triết học ngẫu nhiên”. “Triết học ngẫu nhiên”, nghĩa là, động lực và quan điểm ban đầu về sự phản ánh triết học chính là những kinh nghiệm cụ thể và sự quan sát cuộc sống hàng ngày, về những gì dường như chứa đựng đặc tính hình mẫu.
“Thông qua khái niệm ngẫu nhiên, tôi muốn nói về  những gì mà thoạt nhìn là sự vô lý, ví dụ như một sự giao cắt mang tính  lai ghép giữa  siêu hình học với báo chí: Một kiểu triết lý mà đối tượng của nó là hoàn cảnh hiện tại, có nghĩa là những (sự) phân mảnh đặc trưng của thế giới hiện đại của chúng ta. Tuy vậy không chỉ đối tượng (hoàn cảnh) đó, mà chính bản chất không rõ ràng và không ổn định của những phân mảnh này (của hoàn cảnh đó), là những cái  trước hết và trên thực tế tạo ra hoạt lực cho kiểu  triết lý này”([1]).
Anders đã phát triển cách tiếp cận mang tính “triết học ngẫu nhiên” đặc biệt trong tư tưởng triết học công nghệ của ông. Ở giai đoạn đầu của triết học nhân học của mình, ông vẫn còn nhìn nhận con người (tồn tại người) trên nền tảng của thế giới động vật. Trong cuốn nhân học này, cuốn sách mà ông hoàn thành trước khi ông rời quê hương (ông đến Paris năm 1933 và đến Mỹ năm 1936), lần đầu tiên ông coi nguồn gốc tự do của con người trong “tính không quy định” (“Unfestgelegtheit”) và trong “sự xa lạ (vong thân) với thế giới” (“Weltfremdheit”). “Tính nhân tạo hóa là bản chất của con người” [.....]([2]) . Thế giới ngẫu nhiên thì ngược lại tính tự do này, và vì thế theo Anders sẽ dẫn đến sự thất bại khi nhận dạng tự do.  Ông miêu tả (tính ngẫu nhiên) như là nỗi xấu hổ (không biết về) chính bản thân mình, sự xấu hổ này có thể được giải quyết bằng nhiều phương thức khác nhau. Anders đã trình bày chi tiết về “con người lịch sử” và “nhà hư vô chủ nghĩa” (“những thất bại của sự tự nhận dạng bản thân”), ông còn nói sơ qua về “con người xã hội” (con người sống trong môi trường ổn định, và đảm đương vai trò xã hội đã được giao phó, và vì thế, những đối nghịch về nhận dạng (bản thân) được dần loại bỏ) và “con người hành động” (kiểu con người thoát khỏi tính ngẫu nhiên bằng ý chí và hành động của mình)([3]).
Quan niệm về con người của ông thay đổi đáng kể sau những trải nghiệm chiến tranh, nghèo đói và khổ đau của chế độ Quốc xã và chiến tranh thế giới lần thứ hai, cũng như khi đối mặt với phong cách sống và làm việc của xã hội công nghệ hiện đại khi ông tha hương ở Mỹ và sau đó là Châu Âu. Khi đó ông đã nhận ra rằng, chính cấu trúc công nghệ đã hình thành nên xã hội hiện đại và sau đó con người, và chính cấu trúc này đã ảnh hưởng thậm chí còn quy định hành động, cách tư duy và cảm xúc của con người. Kể từ đó mối quan tâm lớn nhất của ông không còn là bản chất của con người mà là bản chất của công nghệ và mối quan hệ giữa con người với các sản phẩm, thiết bị, máy móc công nghệ.
Mối quan hệ giữa con người và công nghệ hiện đại được đặc trưng bởi  “khoảng cách Prô-mê-tê” (“prometheisches Gefälle”). Vì vậy, Anders đã coi sự khác biệt giữa những gì mà chúng ta có thể sản xuất với những gì mà chúng ta chỉ có thể tưởng tượng: Chúng ta có thể  sản xuất “nhiều hơn” những gì mà chúng ta có thể tưởng tượng; chúng ta biết “nhiều hơn” là cảm xúc và và lương tri của chúng ta có thể tính đến (ví dụ như: Sự tàn sát người dân Do thái thời Đức quốc xã). Sự khác biệt này có thể thấy rõ khi chúng ta xét tới bom nguyên tử, hậu quả thực sự của nó, sự hủy diệt toàn bộ loài người, đã vượt quá khả năng nhận thức, cảm xúc và đạo đức của chúng ta. Anders được coi là nhà triết học thời đại bom nguyên tử kể từ khi ông cống hiến  cuộc đời của ông để phân tích sự nguy hiểm của bom nguyên tử và chống lại bom nguyên tử hơn bất kỳ triết gia nào khác.
Quan niệm về sự khác biệt luôn được đề cập trong toàn bộ tư tưởng triết học của Anders. Vì vậy, tư tưởng triết học chủ đạo của ông cũng có thể được gọi là “triết học về sự khác biệt”. Trong cả hai lĩnh vực, nhân học giai đoạn đầu và triết học công nghệ, thì quan niệm này vẫn là tư tưởng chủ đạo của Anders: Ban đầu là khoảng cách bản thể luận giữa con người và thế giới (thế giới xa lạ), sau đó là sự mâu thuẫn giữa con người và công nghệ.
Để kết thúc mục giới thiệu, tôi muốn đề cập thêm hai quan niệm về triết học công nghệ của Anders. Theo Anders, hệ quả của “khoảng cách Prô-mê-tê” chính là “sự hổ thẹn Prô-mê-tê” (“Prometheische Scham”). Quan niệm này chính là đề cập đến hiện tượng con người nội tại hóa những nguyên lý của  máy móc (công nghệ), và quan niệm về bản thân theo lôgíc của các sản phẩm và thiết bị công nghệ, chính vì vậy, họ tạo dựng mình thành một bản ngã có đặc tính giống như cái máy; trong sự cạnh tranh với thiết bị thì bản ngã thiết bị hóa (vật hóa) đó chắc chắn sẽ ở vị trí thua kém hơn. (Từ khóa: Kỹ thuật con người hay kỹ thuật vị phân (human engineering)). Thiết bị hóa (vật hóa) bản ngã của mình không chỉ có nghĩa là dấu ấn của máy móc trong suy nghĩ và hành động của con người, mà còn hợp nhất cơ thể của con người với máy móc và thế giới máy móc. Các cử động của cơ thể và tay sẽ bị quy giản thành sự vận hành của máy móc; chính phương thức vận hành máy móc quyết định nhịp điệu, và con người phải tuân theo máy móc (Xem thêm bộ phim “Thời hiện đại” của Ch.Chaplin).
Điều này đặt ra câu hỏi, ai thực sự là chủ thể và ai thực sự là đối tượng. Trong bối cảnh đó, Anders đã bảo vệ quan điểm gây nhiều tranh cãi trong thế kỷ XX, khi mà công nghệ trở thành chủ đề của lịch sử. Ông cũng không ngần ngại khi nói về “nền chuyên chính công nghệ”. Toàn bộ hiện tượng này ông gọi là “chế độ kĩ trị”. Chế độ kĩ trị là chế độ được vận hành bằng công nghệ, nơi mà chúng ta sống và phát triển trong cơ cấu mạng lưới phức tạp, những cơ cấu này không còn bị chi phối và định hướng bởi con người mà ngược lại, chúng quyết định đến cuộc sống của con người.

2.  Anders với tư cách một triết gia Áo: Tập san triết học “Wiedersehen und Vergessen” (“Trở lại và Quên lãng”)
Viên - Thủ đô của Áo đóng vai trò quan trọng trong cuộc đời của Anders. Tháng  4 năm 1950, ông dời đại học “Queen Mary” - New York và về Viên tháng 5 năm 1950 sau khi ông dừng chân tại Paris và Zürich ([4]). Ít lâu sau đó, năm 1951, ông đã trở thành công dân Áo. Có rất nhiều lý do ông trở về Châu Âu đặc biệt là Áo, chẳng hạn như: Khi sống ở Mỹ, Anders chưa bao giờ cảm nhận nơi đây giống như là nhà của mình. Rất nhiều siêu đô thị như New York, theo cảm nhận của ông đều “vượt ngưỡng” (“überschwellig”) như thể nó đang làm hủy hoại các giác quan của con người. Theo ông, những thành phố Châu Âu vẫn còn có cái gì đó gần gũi với con người([5]). Một lý do quan trọng khác([6]) đó là ông sợ vốn tiếng Đức của mình bị mai một, ít nhất là bị đẩy ra ngoài sự phát triển mạnh mẽ của người Đức. Và, lý do cuối cùng([7]) chính là những biến động chính trị tại Mỹ trong suốt kỉ nguyên McCarthy.
Ban đầu Anders quyết định trở về Viên là vì người vợ thứ hai của ông, nhà văn người Áo, Elisabeth Freundlich, người mà ông gặp năm 1944 và kết hôn một năm sau đó. Vợ của ông sinh ra và lớn lên tại Viên, vì vậy mà bà muốn trở về quê hương. Ngoài ra, Viên cũng mang lại cho ông một cơ hội đặc biệt: Đối với ông, Viên như là “mảnh đất tự do” (chưa bị chiếm dụng, khai phá)([8]), là nơi giúp ông phát triển tư tưởng triết học đích thực của riêng mình – mà không phải quan tâm tới tình hình chính trị, không phải có những thỏa hiệp (cái mà, theo ông sẽ xảy ra nếu ông trở về Đông hoặc Tây Đức). “Chắc chắn rằng, mảnh đất này là không tưởng, một “mảnh đất tự do”, nhưng quả thực đó là một tầm nhìn thoáng đạt (toàn cảnh)!”([9]). Ngay sau khi trở lại Viên, Anders đã tận dụng “cơ hội lạ lẫm”này([10]) một cách triệt để.
Tất cả tác phẩm khiến ông nổi tiếng đều được viết tại Áo. Việc ấn hành tiểu luận về Kafka năm 1951([11]) và tập đầu tiên trong tác phẩm nổi tiếng của ông “Die Antiquiertheit des Menschen” (“sự lạc hậu của con người”) năm 1956 đã mang lại thành công ban đầu cho ông. Cũng tại Áo, ông đã tích cực tham gia các hoạt động chính trị trong nhiều năm. Ông cũng có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của văn hóa Áo và lịch sử đương đại qua những cảm nhận của ông về thủ đô Viên thời hậu chiến, thông qua các tác phẩm của ông khi ông còn là nhà báo và nhà phê bình văn hóa và xã hội. Phần tiếp theo tôi sẽ bàn về một số khía cạnh trong tuyển tập nhật kí của ông tại Áo từ năm 1950 đến 1951, được xuất bản lần đầu tiên năm 1967 với nhan đề “Wiedersechen und Vergessen” (“Trở lại và Quên lãng”)([12]).  Wiedersechen und Vergessen”  -  “Trở lại và Quên lãng” là tuyển tập nhật kí được ông viết từ tháng 5 năm 1950 đến tháng 7 năm 1951. Bộ tuyển tập đã giải thích và phản ánh tình trạng khó khăn và phức tạp của “Abwesenden” (“người lữ khách tha hương” bao gồm cả người di cư và nhập cư) và “Zurückgebliebenen” (tình trạng của những người còn sống sót sau nạn tàn sát người Do Thái thời Quốc xã Đức, người phạm tội và những nạn nhân) ở thủ đô Viên nước Áo thời hậu chiến. Những cảm nhận, những trải nghiệm và sự kiện hàng ngày chính là cơ sở để ông phản tư và hình thành những luận đề hay và xuất sắc cũng như những nỗ lực nhằm giải thích các sự kiện đó. Những tác phẩm này thể hiện phong cách đặc thù của “triết học ngẫu nhiên” đặc biệt là “triết học về sự khác biệt” của ông trong lĩnh vực hành vi và hành động mang tính đạo đức chính trị([13]).
Xét về mặt phương pháp luận, Anders kết hợp sự lưu ý của Hiện tượng học tới những bình luận trong đời sống thường nhật, những kí ức, thái độ, các đối tượng với một sự phân tích phê phán và diễn giải về những quan sát này; đồng thời kiến giải chúng dựa trên các sự kiện của tâm lý học, nhân chủng học, xã hội, chính trị và lịch sử. Jason Dawsey đã bày tỏ thẳng thắn rằng: “Chúng ta nên coi Anders là nhân vật quan trọng trong lịch sử trí thức Áo hậu - 1945”, nhận xét của Dawsey là chính xác; tuy nhiên, Anders “hiếm khi được đề cập trong các nghiên cứu về lịch sử  trí thức và văn hóa Áo hiện đại”([14]).
Tiếp theo, tôi sẽ đi vào phân tích 3 khía cạnh về sự kiến giải của ông: Thứ nhất là tình cảnh của những người hồi cư , thứ hai là các biến thể khác nhau để che đậy các sự kiện lịch sử, thứ ba là những nỗ lực giải thích của Anders dựa trên ý niệm về sự khác biệt.
Anders mô tả bằng một cách rất sắc sảo những vấn đề mà người hồi cư  từng phải đối mặt khi họ trở về cố hương, với thời gian và thế giới trước khi họ ra đi “Vor-Zeit”  “Vor-welt”([15]). Anders nhận ra nguy cơ ấy, rằng thời kỳ lưu vong (sống xa quê hương) đang phai mờ dần chỉ như một khúc chuyển đoạn (“Intermezzo”), mà cảm nhận thời gian bị lãng quên, như dòng chảy của thời gian đối với tuổi tác của chúng ta vậy. Ông viết: "Trước khi bạn (nhận) biết được nó, thời đã qua và thời hiện tại đang đồng hành cùng nhau"([16]), bởi vì “quan điểm của mười lăm năm trước đã bị gạt bỏ”([17]).
Sự khôi phục lại những gì thân quen cũ với thế giới trước khi tha hương (“Vor- welt”), và sự thờ ơ đi kèm đối với ông là điều hổ thẹn. Con người vô tư lự đi ngang bao đường phố (quen), sau một khoảnh thời gian ngắn ngủi (xa cố hương), thật là sỉ nhục”, Anders viết, con người đi vào thành phố, bước lên xe điện, với vẻ xấc xược, như thể không phải trở về sau 15 năm lưu vong, mà là qua một cuộc du lịch ngắn”([18]). Ngay cả cái “Lôgíc của trái tim” thường được áp dụng cũng bị đảo ngược trong trường hợp của người hồi cư: Người hồi cư không thấy xúc động với những thay đổi, mà chỉ với những sự vật không thay đổi, quả thực, bởi vì đối với những sự vật này có vẻ như chẳng có gì đã xảy ra.
“Cái vô sỉ của những sự vật tình cờ, sống sót sau thời khải huyền, như thể những sự vật này vô can; cái vô sỉ ở chỗ chúng ngậm miệng lại và che đậy người chết. Sáng nay, chẳng hạn, tôi đứng ở cửa hiệu bánh mì N., nơi mười bốn năm trước, Walter Benjamin nói chuyện với tôi lần cuối. Cũng trưa ngày đó tôi ra đi […] Giờ đây, hôm nay tôi đứng trước cửa kính của cửa hiệu này, và cửa hiệu có vẻ như xưa nay chưa bao giờ xảy ra chuyện gì […] Toàn đường phố với những chiếc ghế và người qua lại, ngay cả cây cối và bầu trời dường như cũng giả vờ trong cung cách ghê tởm nhất”([19]).
Một vấn đề - theo như Anders – là những người hồi cư chỉ biết những gì xảy ra ở châu Âu trong những năm lưu vong, song họ không trực tiếp chứng kiến([20]); hơn nữa, ngôn ngữ người di dân duy trì thu nhận trong lưu đày tỏ ra không thích hợp với thế giới mới mà cũ này; việc tìm ra được giọng điệu phù hợp hầu như là không thể([21]). Theo Anders người hồi cư vẫn giữ một vai trò quan trọng, ấy là duy trì ký ức về những gì xảy ra, ký ức của sự thật. Những con người còn ở lại (Zurückgebliebenen) phải đương đầu với nhiều năm kinh nghiệm thời chiến một cách cụ thể và ít ra họ tìm ra “vài lối sống thoả hiệp”([22]); chỉ những người vắng mặt (Abwesenden) mới có cơ may bám vào sự thật và giữ niềm “thù hận” của họ. Trải qua sự sỉ nhục này là nhiệm vụ của người hồi cư”: Chúng ta có cơ may giữ được tính trung thực, cơ may vẫn giữ được đức tin. Trong khi những người khác, vẫn ở lại trong nước Đức bị tàn phá, khó có cơ may này”([23]).
Trên cơ sở những trải nghiệm ngắn của mình, Anders mô tả cơ chế của sự đàn áp và quên lãng; và những khó khăn, thực ra là những nan đề đạo đức do sự  chạm trán không thể tránh giữa những nạn nhân và thủ phạm (gây tội ác) trước đây([24]).  Anders đối đầu với nhiều cách thức bào chữa: “Những luận chứng đảo ngược”([25]), đảo ngược nạn nhân - tội phạm([26]), bế tắc trong việc tìm hiểu rõ quan hệ nguyên nhân và hậu quả ([27]), một sự quên lãng chung([28]), ẩn mình vào riêng tư([29]), một sự lãnh đạm đặc biệt([30]), một tình trạng tự cô lập hoá đặc thù (Viên như một tỉnh lẻ của quá khứ)([31]).
Đáng kể là Anders, dựa trên cơ sở ý tưởng về sự khác biệt của mình, toan tính giải thích lối cư xử và hành động không phù hợp: Những gì xảy ra trong quá khứ gần đây vượt khỏi khả năng tưởng tượng của con người, năng lực đạo đức và cảm xúc của con người. Vả lại, đó là một trong những lý do giải thích tại sao các biến cố quá khứ không thể đơn giản “được tha thứ”/ “bỏ qua”([32]). Thái độ thờ ơ, thậm chí là lười biếng xuất hiện trên nền tảng này như những cơ chế bảo vệ, bởi cái hoàn toàn không thể nhận thức (nắm bắt) được có thể là gánh nặng đối với con người([33]). Trong ngữ cảnh ấy, Anders phát hiện biện chứng đạo đức thật ghê gớm. Có thể tóm gọn luận đề này như sau: Hành động càng lớn và càng khó hiểu, thì cảm giác có tội càng giảm đi.
“Do không biết đến bảng cửu chương nên lương tri không biết tính toán. Tội ác mau chóng đạt đến cực điểm [...] Cho nên bạn, ngay cả khi có lương tri về tội lỗi, vẫn có thể (gây) thêm một vài tội ác “với lương tâm trong sạch”; máy ghi chấn động của đạo đức không thể làm lệch hơn những gì là nó đã làm lệch rồi. Rõ ràng là do tội lỗi dường như [có vẻ] không tăng lên thêm, người ta được phép tích tụ tội ác […].
Tội giết một người (nếu không có ai nữa bị giết thêm) hay tội giết hai người đều có thể gây phiền toái cho kẻ phạm tội. Song bạn có thể không tiếc một trăm cá nhân bị sát hại; […] và kẻ giết người tập thể hầu như lại là một người tốt làm việc cực nhọc bằng mồ hôi, nước mắt cuả mình”([34]).
Khởi từ một khung cảnh có vẻ thơ mộng đồng quê trong một "Gartenlocal" (khu vực nhà hàng ngoài trời) và một cuộc phỏng vấn với K.([35]) Anders đi đến câu hỏi rằng, liệu những sự kiện (biến cố) của quá khứ có lặp lại không, trong những điều kiện chúng có thể lặp lại. Những nhận định này được hoàn thiện trong một phản tư triết lý đạo đức hoàn chỉnh về khái niệm tự do và tính chính đáng, phân biệt giữa một thế giới sai lệch và một thế giới đúng, có tính đến tính “không quy định” nhân học (Unfestgelegtheit)  hay “tính xa lạ với thế giới” (Weltlosigkeit) của con người. Lập luận của Anders xuất phát từ đơn thể người không thích đáng (“con người”) đến đa thể người (con người là những con người([36])), sau cùng dẫn đến những quan hệ quyền lực và xã hội thực tại, là những gì mà Dasein (Hiện tính thể của Heidegger) được phơi bày ra. Nhiệm vụ của chúng ta có thể là - theo Anders - hiện thực hóa (thực năng hóa) một thế giới, nơi nào đạo đức có thể không còn là tất yếu([37]).

3.  Triết học dấn thân của Anders (Anders’s philosophie engageé): Qua ví dụ về sự giao kết của ông với Việt Nam
Anders có thể xem như một trong những đại diện Đức hiếm hoi thuộc dòng “triết học dấn thân”. Các văn bản của dòng triết học này thể hiện sự can thiệp gay gắt, thậm chí tham dự tích cực vào các hoạt động chính trị. Một mặt, sự “chạy chốn” vào thế giới thực tại  của ông bị chế định bởi những thảm họa chính trị và lịch sử của thế kỉ 20 (chế độ Quốc xã, chiến tranh thế giới thứ hai, thảm họa Auschwitz, và sự kiện Hiroshima). Mặt khác, về mặt lý luận lối suy nghĩ  hành động này đã được xác lập từ rất sớm([38]).
Những năm 60 và 70 là giai đoạn Việt Nam đang phải trải qua chiến tranh, đó chính là động lực cho Anders phân tích lý thuyết và hoạt động chính trị thực tiễn trong phong trào phản chiến ở Việt Nam. Trong những năm chiến tranh này, ông đã tập trung nghiên cứu các khía cạnh về chính trị, công nghệ và truyền thông của cuộc chiến này, điều này đã  được thể hiện bằng rất nhiều bài báo, các chuyên san và các bài phê phán - được xuất bản đặc biệt trên những tờ báo và tạp chí sử dụng tiếng Đức([39]).
Năm 1967, ông là thành viên của “tòa án xét xử tội phạm chiến tranh Việt Nam” (Tòa án Russell). Cùng năm đó, ông đã xuất bản một bản cáo trạng với nhan đề “Nürmberg und Vietnam” (“Nuremberg và Việt Nam”). Trong chuyên khảo nhỏ này, Anders đã sắp xếp những quan điểm và sự kiện khác nhau thành một “bức tranh khảm kết bao quát”: Một mặt, ông đề cập đến tội phạm chiến tranh của Mỹ và sự tuyên truyền giảm nhẹ tội thông qua hoạt động chính trị và truyền thông; mặt khác, ông cũng nhắc đến tội phạm của chế độ Quốc xã và những nguyên tắc của tòa án quân đội quốc tế về Nuremberg, và cuối cùng là vụ xét xử chống lại một công dân Mỹ là David Mitchell, do anh này từ chối tham gia phục vụ quân ngũ([40]).
Năm 1968, Anders đã xuất bản tuyển tập các bài phê phán - một dạng “nhật kí suy tưởng” với những sự kiện hiện thời liên quan đến chiến tranh Việt Nam mang tên “Đến thăm Việt Nam xinh đẹp”([41]) . Hơn thế nữa, sự nghiệp văn học của Anders còn được đề cập trong các chủ đề sau: Những tuyển tập tạp văn, hai tập tạp chí đóng gộp của năm 1969 và 1970/75, một loạt các trích đoạn và một bản đánh máy đã được hoàn tất (thường là hợp tuyển các bài phê phán) - có thể là tuyển tập đầu tiên trong công trình nghiên cứu của ông tiếp sau chuyên khảo “Đến thăm Việt Nam xinh đẹp”, tuy nhiên công trình đó vẫn chưa được xuất bản([42]). Cuối cùng, năm 1969, Anders đã tham dự hội thảo về Việt Nam ở Stockholm và ông đã viết về hội thảo đó trong một bản tuyên ngôn về Việt Nam([43]).
Tác phẩm “Đến thăm Việt Nam xinh đẹp” và công trình đánh máy chưa được xuất bản bao gồm các bài phê bình bằng một ngôn ngữ sắc sảo và phê bình truyền thông/ báo chí. Tiếp theo tôi sẽ nói ngắn gọn về vấn đề này. Anders sử dụng phép biện chứng đặc biệt để đề cập đến truyền thông phương Tây mà được miêu tả như “sự che đậy bằng cách phơi bầy ra”. Sử dụng các cụm từ mang tính phê phán như “Die Wahrheit lügen” (“nói dối về sự thật”), “không còn gì để dấu”, hay “Unwahre Wahrheit” (“Sự thật không đích thực”), Anders giải thích việc người ta bị xao lãng (lạc hướng) với sự thật bởi tính minh bạch, cởi mở và chân thành đã bị che dấu, “Sự thật cũng có khả năng lừa gạt. Nếu như chúng (sự thật) át người ta đi để đến với những sự thật quan trọng hơn. Thường thì sự lừa gạt không chỉ là khía cạnh ngẫu nhiên và đáng tiếc của những tuyên bố về chân lý, mà là kết quả chính yếu có chủ định do những tuyên bố đó muốn tạo ra” ([44]).
Anders cũng phê phán sự xuyên tạc của ngôn ngữ trong các bài báo truyền thông, những bài báo ấy đã che dấu sự thật bằng việc đăng thông tin không chính xác. “Nói dối không phải là việc đưa ra cái sai lệch, mà là diễn đạt sự thật một cách sai lệch”([45]). Theo Anders, sự dối trá đó không nằm ở “việc trình bày các sự kiện không chính xác” mà là nằm ở “sự lựa chọn từ ngữ trong việc phản ánh (trình bày) sai lệch về các sự kiện chân thực”([46]). Anders đã minh họa làm thế nào mà những từ và những cụm từ đơn giản có thể tạo ra luồng dư luận và hình ảnh mang tính định kiến thông qua các ví dụ xác thực. Chẳng hạn như, tính từ đơn “alleged” (“được viện dẫn”) ám chỉ sự kiện (được nói đến) là rất đáng ngờ, tạo ra cảm nhận về một sự khách quan và nghiêm túc nhất định nào đó ([47]). Hơn thế nữa, nếu thay  vì nói “Những trận chiến” (“Kämfe”) mà nói “Những hoạt động chiến đấu” (“Kampfhandlungen”) cụm từ sau dường như giống với một công việc và vì vậy “hoàn toàn vô tội”([48]) . Trong cuốn “Đến thăm Việt Nam xinh đẹp” ông viết như sau:
“Vấn đề không chỉ nằm ở chỗ bài báo có đúng sự thật hay không, […] mà còn phụ thuộc vào thái độ viết báo có nói lên sự thật hay không. Nếu như thái độ viết báo không đúng sự thật thì nó cũng ảnh hưởng đến sự thật ẩn chứa bên trong bài báo, dẫn đến sự sai lệch của bài báo đó. Đây là vấn đề tế nhị trong tình cảnh ngày nay, khi mà sự thật và phi sự thật luôn luôn song hành([49]) .
Trong chuyên khảo về Việt Nam (cũng như trong các bản đánh máy chưa được xuất bản) của mình, Anders đã nhiều lần phê phán các phương tiện truyền thông hàng đầu của Áo([50]).
Cuối cùng tôi muốn điểm qua sự kiện, trong số các tác phẩm văn chương của Anders có cả một số bức thư ông trao đổi với người Việt Nam([51]). Có một bức thư mà Ông đã trao đổi với ông Nguyên - người  đã chuyển ngữ một số thông điệp của Anders trong “Đến thăm Việt Nam xinh đẹp” sang tiếng Việt và là người đăng bài báo viết về ông trên một tờ báo của Việt Nam nhân kỷ niệm mười năm ngày Việt Nam giành lại hòa bình (rất tiếc là ông Nguyên không đề cập tên bài báo đó)([52]). Anders cũng trao đổi thư từ với ông Phạm Văn Bạch từ năm 1969 đến 1970([53]). Lúc bấy giờ, ông Bạch là chủ tịch ủy ban điều tra tội phạm chiến tranh của đế quốc Mỹ ở Việt Nam. Günther Anders viết thư cho ông Bạch vào ngày mùng 10 tháng 10 năm 1969 với nội dung như sau:
“ Cảm ơn ông vì những thông tin quý báu mà ông đã gửi cho tôi […]. Không cần phải nói, tôi sẽ cố gắng đăng tin tức được đề cập trong bức thư của ông ở bất cứ nơi đâu mà tôi có cơ hội viết và xuất bản những tài liệu liên quan đến tội ác của người Mỹ trên đất nước ông. Hiện tại, tôi đang chuẩn bị cho các cuộc biểu tình lớn ở các quốc gia nói tiếng Đức nhằm ủng hộ phong trào lan rộng ở Hoa Kỳ để giúp đỡ nhân dân anh hùng của ông. Xin hãy tiếp tục cung cấp cho tôi những loại thông tin như vậy. Không cần phải nói, tôi sẽ cố gắng hết sức [làm mọi thứ có thể] trong khả năng của mình để giúp đỡ các bạn”.
Ngày 20 tháng 1 năm 1970, ông Bạch đã gửi thư cảm ơn tới Anders. Anders viết thư trả lời vào ngày 14 tháng 5 năm 1970. [Và] Ông Bạch hồi âm vào ngày 22 tháng 1 năm 1970. Vào ngày mùng 8 tháng 8 năm 1970, Anders viết thư cảm ơn ông Bạch vì đã gửi cho ông một bản sao di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh: “Xin hãy nhận lời cám ơn chân thành của tôi vì đã gửi cho tôi bản di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh, bản di chúc đã để lại cho tôi nhiều ấn tượng rất sâu sắc”.
*      *
*
Không còn nghi ngờ gì nữa, [tư tưởng] triết học của Anders đã là một sự “phê phán” đúng theo nghĩa gốc của từ phê phán “criticism” (trong tiếng Hi Lạp là “Krinein”). Những bài báo triết học viết về thời hậu chiến ở Viên cũng như  hoạt động chính trị của ông trong phong trào phản chiến ở Việt Nam là minh chứng cho thấy Anders là một nhà triết học mà  sự phê phán triết học và sự am tường triết học luôn có mối liên hệ với sự dấn thân mang tính đạo đức. Anders xem sự tách biệt giữa lý luận và thực tiễn như là vấn đề cơ bản của nền văn minh hiện đại.

Người dịch:  NGÔ HƯƠNG GIANG
(Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam)
Người hiệu đính: ThS. TRẦN TUẤN PHONG
(Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam)

(Bài đã đăng trên tạp chí Triết học số tháng 09/2013)





(*) Thạc sĩ triết học, Đại học Viên, Áo.
([1]) Anders. Sự lạc hậu của nhân loại (Die Antiquiertheit des Menschen), t.1, tr.8.
([2]) Anders. Bệnh lý học của tự do, tr.22.
([3]) Xem: Bệnh lý học của tự do.
([4]) Dawsey. Tên của Hitler chưa từng được nhắc đến ở đâu, tr.216.
([5]) Xem: Anders. Nhật ký và Thơ ca, tr.106,129-131. Anders nói về tính xác định của kỹ thuật và tính xác định của công nghiệp, tính chất tựu thành của nhân chủng học, sự khác biệt giữa các siêu - thành phố “vượt ngưỡng” và khả năng gợi cảm của con người.
([6]) Sđd., tr.108.
([7]) Dawsey. Tên của Hitler chưa từng được nhắc đến ở đâu. Sđd., tr.216.
([8]) Anders. Nhật ký và Thơ ca. Sđd., tr.120.
([9]) Sđd., tr.120.
([10]) Sđd., tr.213; xem thêm ở tr.149 (phần viết về “Nỗi niềm hoài hương”)
([11]) Anders. Kafka. In lại trong: Con người không có thế giới (Mensch ohne Welt). Munich 1951, tr.45-131.
([12]) “Trở lại và Quên lãng” từng được in trong: Viết trên tường. Nhật ký từ 1941 đến 1966, xuất bản tại Munich 1967. Sau đó văn bản này được in lại trong: Nhật ký và Thơ ca, tr.94-213.
([13]) Xem: Orlowski. Nhật kí ở Vienna của Günther Anders, tr.37.
([14]) Dawsey. Tên của Hitler chưa từng được nhắc đến ở đâu. Sđd., tr.212f.
([15]) Xem: Anders. Nhật ký và Thơ ca. Sđd., tr.98.
([16]) Sđd., tr.96.
([17]) Sđd., tr.102; xem thêm tr.10.
([18]) Sđd., tr.96.
([19]) Sđd., tr.99-101.
([20]) Sđd., tr.118.
([21]) Sđd., tr.109.
([22]) Sđd., tr.116.
([23]) Sđd., tr.117; xem thêm:112–118, 174
([24]) Ông N. và người tố giác của ông: R. (Sđd., pp. 121, 134, 144–147), sáng lập viên Ông L. và người tiền nhiệm: SA, thành viên: Huber (Ibid., pp. 150–160), và nam diễn viên: M. (Ibid., p. 187).
([25]) Sđd., tr.136.
([26]) Sđd., tr.163.
([27]) Sđd., tr.175ff.
([28]) Xem: Sđd., tr.162, 178, 180ff, 189ff, 200.
([29]) Sđd., tr.177f.
([30]) Sđd., tr.172f.
([31]) Sđd., tr.127. Xem thêm các bài viết của Dawsey, ông giải thích các chủ đề này một cách bao quát và chi tiết hơn. (Dawsey. Tên của Hitler chưa từng được nhắc đến ở đâu, tr. 219ff).
([32]) Thêm  hai lý do nữa mà theo Anders thì tha thứ có nghĩa là "xác định trong giả định", và cái xác định này có thể/ phải bị từ chối. Hơn nữa, "sự tha thứ của tập thể" cũng như "sự hối hận tập thể" theo Anders là điều không thể. (Anders. Nhật ký và Thơ ca, tr. 164)
([33]) Xem thêm: Anders. Nhật ký và Thơ ca, tr. 195ff. – Xem phần giải thích của Dawsey. (Dawsey, Tên của Hitler chưa từng được nhắc đến ở đâu, tr. 225, 228f, 236.)
([34]) Anders. Nhật ký và Thơ ca. Sđd., tr. 164f.
([35]) Sđd., tr.192ff.
([36]) Xem: Sđd., tr.207.
([37]) Xem thêm: Sđd., tr.200, 212.
([38]) Xem thêm: Các bài viết giai đoạn đầu: “Thực tiễn” nhìn từ năm 1924.
([39]) Một số tờ báo/tạp chí khác như: “Vấn đề nước Đức và Chính trị quốc tế” (Frankfurt/M.), “Thủy tinh vương” (Stuttgart), “Lập luận” (Berlin), “Diễn đàn” (Vienna); Xin xem thư mục về Heinz Scheffelmeier trên: http://www.forvm.at/.
([40]) Anders. Nürmberg và Việt Nam. Synoptisches Mosaik, Berlin, 1967.
([41]) Đến thăm Việt Nam xinh đẹp. Sự bành trướng ngày nay của ABC (ABC là từ viết tắt của Audiobook company: Các công ty sản xuất sách dưới dạng Audiobook -  Một loại sách có hình thức dưới dạng âm thanh, nghĩa là "đọc" bằng cách nghe qua một giọng đọc khác - chú giải của người dịch: N.H.G), Köln: Pahl-Rugenstein, 1968; Phần tái bản, với những bổ sung mới trong một ấn bản do Cộng hòa dân chủ Đức cấp phép dưới tiêu đề: Tội phạm leo thang: Từ ABC tới cuộc xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, Đông Berlin, 1971.
([42]) Các văn bản đánh máy có độ dài khoảng 130 trang, trong đó có một số phần được cắt ra in trên tạp chí Triết học và khoa học xã hội tháng 11/1969, số 1/2, tr. 1-31 dưới tiêu đề: "Chủ nghĩa đế quốc và cuộc chiến chống lại nó”, hoặc “Từ điển triết học ngày nay”, ngoài ra, các phần ấy cũng được xuất bản trên nhiều tạp chí khác, trong đó có Tạp chí “Diễn đàn” của Viên ( Xin xem các số lưu hành 186/187 (1969), tr. 408–409; số lưu hành 193 (1970), tr.10–11; Số lưu hành 195/II (1970), tr. 287–288.).
([43]) Bản tuyên ngôn cho Hội thảo về Việt Nam ở Stockholm, tháng 5/ 1969;  một trong số ấy đã được xuất bản dưới tiêu đề: “Tiếng nói của cộng đồng hướng về đời sống Giáo Hội, về chính trị, kinh tế và văn hóa” (Frankfurt / M.), số 18/1969. 
([44]) Anders. Đến thăm Việt Nam xinh đẹp. Sđd., tr.113.
([45]) “Lấy gì để đảm bảo”. Trang 40 của bản thảo chưa được xuất bản.
([46]) “Phục Kích”. Trang 62 của bản thảo chưa được xuất bản.
([47]) “Được viện dẫn”. Trang 3 của bản thảo chưa được xuất bản.
([48]) “Viên kế toán”. Trang 15 của bản thảo chưa được xuất bản.
([49]) Anders. Đến thăm Việt Nam xinh đẹp, tr. 197.
([50]) Xem. Sđd., tr. 95, 102, 122, 140.
([51]) Gửi lời cám ơn tới đồng nghiệp của tôi trong dự án FWF – Bà Kerstin Putz, người đã cho tôi những lời khuyên quý báu. 
([52]) Bức thư của X. X. Nguyen gửi Günther Anders, Berlin, 10.9.1985. Di sản văn học của Günther Anders: Những thư từ (Nguồn: Thư khố văn học thuộc Thư viện quốc gia Áo, Thành phố Viên).
([53]) Xin xem:  Di sản văn học của Günther Anders. Những thư từ, mục: Phạm Văn Bạch (Nguồn: Thư khố văn học thuộc Thư viện quốc gia Áo, Thành phố Viên).