Thứ Năm, 26 tháng 3, 2015

Ngô Hương Giang: Nghiên cứu Mai Văn Phấn cho tôi nhiều lợi ích

logochuan 6 Ngày 21/3, buổi ra mắt sách "Mai Văn Phấn và hành trình thơ vào cõi khác" đã diễn ra tại Salon Văn hóa Cafe Thứ bảy, Hà Nội với sự dẫn dắt của nhà lý luận phê bình Phạm Xuân Nguyên.
sach NHG1
Cuốn sách là công trình nghiên cứu của hai nhà lý luận phê bình Ngô Hương Giang và Nguyễn Thanh Tâm. Nghe thì tưởng chừng như là để "quảng bá" cho một cuốn sách cụ thể nhưng sự chú ý còn dành cho cả các nhà phê bình cũng như độc giả quan tâm đến thơ đương đại của Việt Nam.
Tác giả Ngô Hương Giang trước khi bắt đầu viết sách chủ yếu liên lạc với nhà thơ Mai Văn Phấn qua thư điện tử và chỉ gặp tác giả khi cuốn sách xong phần bản thảo. Theo anh: "Tôi viết sách này không phải viết về người nổi tiếng mà viết với sự đồng cảm để làm sao hiểu được thơ Mai Văn Phấn. Từ quan niệm về thơ ca đến cách tổ chức tác phẩm đó là hệ quy chiếu mà người phê bình cần có. Và khi tôi nghiên cứu Mai Văn Phấn, tôi có nhiều lợi ích cho bản thân".
Ngô Hương Giang là một nhà phê bình trẻ thuộc thế hệ 8X. Có lẽ vì trong số những cuộc ra mắt sách gần đây tỉ lệ sách phê bình còn ít (tương ứng với tỉ lệ xuất bản?), nên buổi giới thiệu sách lần này của anh và Nguyễn Thanh Tâm còn mở rộng ra  để những nhà lý luận phê bình, những độc giả quan tâm trao đổi, chia sẻ với nhau về những vấn đề trong nền văn học Việt Nam đương đại.
Tại sao là Mai Văn Phấn?
Mai Văn Phấn sinh năm 1955, tại Kim Sơn, Ninh Bình, hiện sống tại thành phố Hải Phòng.  
Đoạt một số giải thưởng Văn học trong nước.  
Đã xuất bản 21 tác phẩm, trong đó 10 tác phẩm tái bản hoặc tái bản nhiều lần có bổ sung bản Anh ngữ, Pháp ngữ, hoặc Anbani ngữ:
Thơ Mai Văn Phấn được giới thiệu trên các báo, tạp chí các nước: Thụy Điển, New Zealand, Anh quốc, Hoa Kỳ, Canada, Úc, Hàn quốc, Hồng Kông, Indonesia, Thái Lan…
Cả một cuốn sách viết về thơ của một tác giả cụ thể cũng đủ thấy rằng thơ của Mai Văn Phấn «có vấn đề». Bởi nếu nó bình thường, đủ vần điệu và câu chữ thì giống như bao tác giả khác. Nhưng đó là Mai Văn Phấn, người tự dịch và quảng bá thơ mình tới bạn bè quốc tế, thơ được dịch ra 9 thứ tiếng và được trả bản quyền thơ.
Và như Ngô Hương Giang giải thích thì: «Tiếp nối dấu chân của những người “lớn” về tư tưởng và nhân cách ở trên, chúng tôi với một tâm thế quan sát đi sau, muốn thông qua trường hợp cụ thể là Mai Văn Phấn và thơ của anh, thử tìm một lối lý giải theo cách mà các vị thầy, đồng nghiệp đi trước đã làm: Phát triển một khoa nhân học vi mô từ hướng tiếp cận văn hoá và văn học.
Tác phẩm Mai Văn Phấn và Hành trình thơ vào cõi khác ra đời như là kết quả giải đáp những tò mò và khát khao khám phá. Cuốn sách, do vậy, trước hết là cách lý giải về một mẫu hình nhân học cụ thể qua trường hợp Mai Văn Phấn, và sau cùng là tham vọng muốn đi sâu hơn lý giải các mẫu hình nhân học khác trong tương lai gần”.
Bàn về khủng hoảng thơ
Trong không gian của sách và những người «có liên quan» đến phê bình văn học thì vấn đề của thơ Việt được mọi người cùng nhau đề cập.
MVPTheo tác giả Nguyễn Thanh Tâm thì: “Hiện tại, chúng ta có nhiều người làm thơ nhưng ít thi sĩ, nhiều tác phẩm nhưng ít thi phẩm. Khâu biên tập tại các nhà xuất bản gần như bị vô hiệu hóa, có nhiều xuất bản phẩm ra đời, nhưng để tìm một tác phẩm đọc được không nhiều. Như vậy, chúng ta bị khủng hoảng về tiếp nhận mà đầu tư cho thơ là một đầu tư rủi ro bởi không thể định hướng được thẩm mĩ công chúng. Thơ Việt hiện đang khủng hoảng trong: Sáng tác, phân phối, phát hành, tiếp nhận…”.
Cũng theo anh, từ những khủng hoảng đó mà khi gặp Ngô Hương Giang, anh đã tìm được hướng ra cho ý tưởng của mình và thậm chí có những tư duy làm khó độc giả. Để rồi hai tác giả có hẳn một chương để giải quyết điều này và chú giải tới 4 tập thơ của Mai Văn Phấn.
sach NHG
Từ phải qua: tác giả Ngô Hương Giang, nhà LLPB Phạm Xuân Nguyên và tác giả Nguyễn Thanh Tâm
Quan hệ tương tác giữa nhà LLPB và tác phẩm
Đây cũng là chủ đề được bàn đến trong buổi giới thiệu sách, bởi đó chính là cách mà cuốn sách muốn đề cập tới. Về mối quan hệ này, nhà LLPB Văn Giá nói: “Lý luận phê bình có ba mối quan hệ với tác phẩm, đó là hòa giải, đồng hành và thúc đẩy các sáng tác. Và chúng ta đang ở trong môi trường mà LLPB đồng hành cùng các sáng tác. Ở cuốn sách này là một ví dụ”.
Còn nhà văn Tạ Duy Anh chia sẻ: “Tôi đã từng bất chấp tất cả các nhà phê bình bởi tôi có quan niệm là phê bình nói chung là vô dụng. Nhưng dần dần tôi thay đổi suy nghĩ bởi tôi thấy ta đang có nền phê bình đang chiếm lĩnh giới văn học và dần trở thành chủ đạo. Thực ra thì nền văn học lành mạnh là khi có được mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa người sáng tác và phê bình. Những nhận xét chân thành, trung thực sẽ giúp tôn vinh các tác phẩm và có định hướng tốt cho độc giả”.
“Có nhiều cách để diễn giải một hiện tượng thơ và tạo sự hấp dẫn không cần cầu kì. Cách đặt tên sách là “cõi khác” không gây ấn tượng lớn mà lại gợi đích đến trong bối cảnh này. Đặt Mai Văn Phấn trong khủng hoảng thơ đương đại để thấy được nét khác biệt và nỗ lực của Mai Văn Phấn cũng như một số nhà thơ khác trong quá trình thoát khỏi khủng hoảng” - Nhà LLPB Mai Anh Tuấn lại có một góc nhìn khác.

P.V

(Nguồn: http://vannghequandoi.com.vn/Binh-luan-van-nghe/Ngo-Huong-Giang-Nghien-cuu-Mai-Van-Phan-cho-toi-nhieu-loi-ich-6903.html)

Khai sáng, Tiến bộ và Cách mạng: Một phác thảo phê phán triết học về Tính hiện đại

(Trích từ chuyên luận Triết học: Khai sáng và Phê phán 
 Góp phần nghiên cứu tư tưởng Khai sáng và Phê phán lí tính văn hóa, xuất bản Quý I/ 2015)

Ngô Hương Giang

***

Bìa sách chuyên luận.

Việc phê phán Tính hiện đại đã trở thành mối quan tâm của triết học đương thời, nó không chỉ là dấu mốc đáng nhớ mà Alain Touraine([1]) in dấu sự ảnh hưởng của mình trong giới triết học vào năm 1992 với tác phẩm: Phê phán tính hiện đại (Critique de la modernité)([2]), mà nó đã thực sự trở thành đề tài được bàn luận rộng khắp kể từ khi nước Pháp tiến hành cuộc cách mạng vào năm 1789.  Trong ký ức lịch sử tư tưởng của nhân loại, đặc biệt là của thế giới phương Tây, cuộc cách mạng Pháp được ví như là cuộc cách mạng của ánh sáng và tiến bộ, mở ra cho loài người một đời sống tự do và dồi dào của cải vật chất… Thế nhưng, sự kiện ấy cũng đã từng trở thành một vấn nạn lịch sử khi nó vừa mở ra cho chủ nghĩa tư bản mảnh đất phì nhiêu để mặc sức trải nghiệm các dấu ấn lý luận lên hiện thực, để rồi sau đó trở thành đối tượng phản tư nghiêm túc của triết học khi chủ nghĩa tư bản bước vào giai đoạn hậu kỳ với những “khủng hoảng” khó có thể giải quyết từ chính khẩu hiệu: Trí tuệ, tự do và bác ái. Văn hoá phương Tây được quy chiếu từ xã hội tư bản hậu kỳ đọng lại trong tư tưởng nhân loại, giờ đây, như là giai đoạn thống trị của kỹ thuật và công nghệ, nơi mà nghệ thuật và các giá trị nhân văn dường như đang quay trở lại vạch xuất phát với nỗi hoang mang cùng cực trong khi chạy đua cùng với sự tiến bộ và sự tối tân của máy móc. Tính hiện đại, giờ đây đã trở thành một “dự án bất tận” mà con người khó có thể hoàn thành nó trong thực tiễn cũng như luôn bị báo động trong tình trạng tự hoàn thiện – điều mà Jürgen Habermas đã ngụ ý trong một ẩn dụ triết học gửi tới nhân loại khi ông viết Hiện đại – một dự án bất tận([3]).
Cuộc chạy đua giữa Khai sáng, Tiến bộ và Cách mạng giờ đây không còn là câu chuyện mà các triết gia đưa ra các tranh luận về mặt khái niệm, mà đã thực sự trở thành sự thức tỉnh về mặt bản chất của triết học, họ xem Tính hiện đại như là cách thức phản tư mà thời hiện đại đã “khéo” thôn tính về mặt tư tưởng ngay từ khi nó dựng lên ý niệm về một thời đại Tự do, dân chủ và bác ái vào năm 1789. Con người kể từ cái khoảnh khắc của cuộc cách mạng ấy đã “bị đẩy xuống thuyền”([4]) như một định mệnh: Xem Khai sáng, tiến bộ và cách mạng như là các phương thức “lý tưởng” để nhằm thực hiện mục đích “Tự do, bình đẳng và bác ái”, mà không hay biết rằng, chính cái khẩu hiệu đó đã đẩy con người vào tình trạng mất tự do, bất bình đẳng và đơn độc([5]). Về điều này, hẳn rằng không có nơi nào trong thế giới “văn hoá toàn cầu” lại có thể trả lời một cách đầy đủ và sâu sắc bằng chính những con người đang được hưởng “thành quả” cuộc sống từ cuộc cách mạng “Khai sáng” Pháp, Đức, Anh cũng như các quốc gia chịu ảnh hưởng từ nó như Mỹ, Canada, ÚC…
Con người đã viện dẫn khẩu hiệu đó để khai thác triệt để sức mạnh của tinh thần khai sáng, đặt lý trí vào cuộc chạy đua khắc nghiệt để vươn tới những giá trị tiến bộ thông qua các bước ngoặt căn bản của công nghệ và kỹ thuật, xem sự thay thế của máy móc với các cấp độ tối tân khác nhau như là kết quả hoàn tất đầy vinh quang của “ánh sáng cách mạng”. Từ “cách mạng” ở đây không chỉ hướng đến một sự thay thế triệt để thực tại, mà còn hướng tới một sự thay thế toàn diện các phương thức sản xuất nhằm diễn giải sự hợp lý của cái “chung cuộc lịch sử” được con người “dựng lên” đầy mơ mộng về một “thiên đường” Tự do – Bình Đẳng và Bác ái. Thế nhưng, cái thiên đường ấy sẽ chẳng bao giờ thành tựu được sức mạnh thực tế của nó trong hiện thực, bởi vì con người càng đấu tranh gay gắt, càng tiến hành các hành động trí tuệ để đạt cho được tiến bộ và cách mạng thì con người càng bị đẩy vào một “giấc mộng bi kịch” mà không thể nào thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn của sự mất tự do – bất bình đẳng và cô đơn.
Ngày nay, khi sự dồi dào của của cải các quốc gia, sự lớn mạnh của công nghệ và kỹ thuật đã chứng minh khoảng cách lệ thuộc của con người vào các sản phẩm do chính mình tạo ra ngày càng lớn. Tình trạng nô lệ của con người vào công nghệ thông tin, công nghệ dược phẩm và công nghệ sinh học; đồng thời sự lớn mạnh của của cải vật chất đã đẩy con người vào tình trạng bất bình đẳng nghiêm trọng, khoảng cách giàu nghèo gia tăng: Người giàu thì cứ giàu lên, còn người nghèo lại cứ nghèo đi; thân phận làm thuê về mặt trí tuệ bị các nhà tài phiệt “bóc lột” đến tận cùng nhằm mục đích nới rộng khoảng cách đẳng cấp trong xã hội([6])…, đó là tất cả những gì mà con người hiện thời phải gánh chịu cho cơn cuồng nộ từ lý tính tiến bộ được truyền thống cách mạng “khai mở” trong xã hội “công nghiệp” suốt từ thế kỷ 19 cho đến nay.
Con người đã tự khu mình vào vỏ ốc của cô đơn và lạc lõng trong thế giới tối tân của máy móc và công nghệ. Văn hoá cộng đồng đã trở thành “giấc mơ dĩ vãng” đối với con người, khi nó bị phá vỡ bởi không gian văn hoá ảo của đời sống số hoá Internet. Con người ngày càng nhận ra sự lạc lõng của mình trước những “cá thể” bằng xương bằng thịt, lời nói yêu thương đã trở thành âm thanh đơn độc, bị công nghệ hút sâu vào các trò giải trí và thế giới văn hoá ảo giác. Chiếc máy tính đã làm cho con người hưng phấn về mặt tinh thần, hấp dẫn sự tò mò bao nhiêu thì cũng chính nó đang thâu tóm con người vào vòng vô cảm, và phi lý bấy nhiêu. Con người ngày càng trở nên “lão hoá về tinh thần” trong một đối nghịch về mức độ gia tăng tuổi thọ nhờ vào sự lớn mạnh của y khoa, giống như một cái cây bị mục rễ và thiếu sức sống từ bên trong, đối lập với cái vỏ óng ánh đến loá mắt bên ngoài. Tỉ lệ người già vào trại giưỡng lão tăng lên, tình trạng ly hôn và nạo phá thai đã trở thành nguyên tắc sống của con người trong một xã hội tự do và bình đẳng; cơn cuồng nộ của bản năng xâm hại([7]) được hiện thực hoá đến mức tối đa trong các cuộc hành quyết giữa người với người và giữa cuộc chiến của những kẻ khủng bố máu lạnh([8]) đối với chính các quốc gia tự cho mình cái quyền canh giữ “thiên đường tự do”([9]). Đó là tất cả những gì mà thế giới phương Tây đang phải trả giá cho cái khẩu hiệu mà họ dựng lên từ năm 1789, để rồi chính họ giờ lại tự đẩy mình vào tình trạng “vị thành niên” của cách mạng. Một vấn đề được đặt ra là: Phải chăng chính những “nhà” khai sáng đang ra sức giao giảng ý niệm về mục đích tiến bộ và cách mạng của công cuộc khai sáng ở phương Tây lại không nhận ra rằng, chính bản thân mình đang phải chịu cảnh “sa lầy” vào tình trạng “vị thành niên kỹ thuật”?
 Hẳn rằng, những bộ óc vĩ đại như Immanuel Kant, Jean-Jacques Rousseau, Montesquieu, Max Horkheimer, Theodor W. Adorno, Jürgen Habermas, Walter Benjamin không thể nào lại “lạc quan” và “ngây thơ” đến mức không nhận ra cái chung cuộc lịch sử mà nhân loại đã và đang trải qua suốt từ thế kỷ 17 cho đến nay. Những dấu ấn “cách mạng khoa học”, như: thảm hoạ hạt nhân và công nghệ đã trở thành nỗi ám ảnh của toàn bộ nhân loại. Vấn đề khiến họ bị “sa lầy” vào lý luận của chính mình, theo chúng tôi không phải nằm ở tính đúng/sai, đầy đủ/ khiếm khuyết trong khi lý luận, mà là ở cái “gia tốc” thực tiễn đã đẩy lý luận của họ vào những ngõ cụt của hy vọng. Thực tiễn chính là đáp án không hẳn khi nào cũng đồng nhất với các định đề lý luận (logic) mà các nhà Khai sáng đã tính đến. Nó có thể đi đúng các nguyên tắc lý luận, nhưng nó cũng có thể chống lại lý luận. Bài học lịch sử đắt giá nhất mà loài người đã trải qua ở thế kỷ 19 và 20 chính là cái thực tiễn mà chủ nghĩa phát xít (fascism) nhân danh chủ thể siêu nhân mà Nietzsche([10]) đã dày công lý luận như là lý tưởng cốt lõi trong triết học của ông; và những cảnh báo mà vua hề Charles Chaplin đã đặt ra cho nghệ thuật nhân loại những năm đầu thế kỷ 20([11]) chính là minh chứng cho “sự phản bội” của thực tiễn gây nên đối với chính lý luận tiến bộ - cách mạng của con người.
Giờ đây, khi mà nhân loại đang chìm trong cơn mộng mị của thời hiện đại, thì không một nhà giải mộng nào có thể đánh thức họ chạy ra khỏi giấc mơ của tự do, bình đẳng và bác ái được xây dựng bởi lý trí khai sáng, vụt biến thành cơn bão táp của khoa học và công nghệ. Con người đang tiếp tục cuộc chạy đua khốc liệt nhằm sản sinh tri thức trong một thiên đường mộng mị, mà các giá trị hiện đại đã gieo vào nó tập quán hy vọng; nhân loại không thể nhận ra rằng, trong cuộc chạy đua ấy dẫu con người đã đạt được thành tựu lớn lao như thế nào thì họ vẫn chỉ là những kết quả được sản sinh từ một “giấc mơ Hiện đại tính”. Và phải chờ đến giữa thế kỷ 20, E. Fromm mới chính  thức tuyên chiến chống lại nó khi ông viết Trốn thoát tự do([12]). Với E. Fromm một sự công khai tuyên chiến với tự do, đồng nghĩa với việc ông công khai tuyên chiến chống lại sự tiến bộ, cách mạng và tính hiện đại, đặt ý thức khai sáng vượt thoát khỏi lý trí hiện đại([13]), để trở thành lý trí hậu hiện đại([14]) giải thoát con người ra khỏi tình trạng “vị thành niên” do cuộc cách mạng cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 gây ra.
Tính hiện đại đã trở thành phẩm chất của thời hiện đại (Modernity) và là trung tâm lý luận của chủ nghĩa hiện đại (Modernism). Nó ôm phủ và bao trùm các giá trị thuộc về tự do, dân chủ và đoàn kết xã hội, là lý tưởng mà các cuộc cách mạng xã hội vin vào nhằm đạt được mục đích lớn lao về mặt chính trị. Vì là lý tưởng, cho nên hiển nhiên nó luôn là một giấc mơ mà con người khao khát hướng đến và là “thiên đường” của ý thức xã hội. Sẽ chẳng có gì để bàn thảo, nếu như ngay từ lúc giai cấp Tư sản Pháp dựng ngọn cờ độc lập không bộc lộ những vấn nạn đẩy lịch sử nhân loại vào ngõ hẹp của huỷ diệt và bị kịch. Nước Pháp, mà đúng ra là giới chính khách Pháp đã xem “khai sáng” như là công cụ để kiện toàn ý niệm “Khai phóng” đối với những quốc gia có cùng ý hướng xã hội, hướng đến thiết lập một xã hội “đồng minh” mà giai cấp tư sản nắm quyền lãnh đạo thế giới. Có thể nói, đó là một tư tưởng hoàn toàn tiến bộ, nếu như loài người không nhìn vào thực tiễn mà họ đã làm, mà chỉ nhắm mắt và lắng nghe những lý luận mà họ thuyết giảng. Và cũng sẽ chẳng có gì đáng quan tâm đến các giá trị mà thuộc tính hiện đại đã vẽ ra giấc mơ thiên đường cho con người, nếu như con người không phải trải qua hai cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai. Dẫu thế nào, dù bên thắng cuộc hay bên thua cuộc đã từng được lịch sử thế giới in hằn vào ý thức loài người, thì sự thắng lợi hay thất bại ấy cũng chỉ gói gọn trong sự “tuyên chiến lẫn nhau” của giới tư sản và chủ nghĩa Tư Bản. Nước Pháp là ngọn cờ đầu tiên cho cuộc cách mạng tiến bộ mà nhân loại gọi là cách mạng khai sáng, thế nhưng cũng chính họ lại trở thành tiên phong của chủ nghĩa thực dân, dẫn đầu phong trào xuyên tạc ý niệm khai sáng để trở thành một nhà nước bảo hộ, nhằm thực hiện mục đích “khai hoá”([15]) đối với các quốc gia khác.
Cũng thật khó có thể bác bỏ được lý luận khai sáng của Pháp nếu như loài người không nhìn vào thực tiễn “thay trắng đổi đen” của nhà nước bảo hộ Pháp khi ngả vào phe đồng minh để chống lại phát xít Nhật năm 1945. Và ngày nay, con người cũng chẳng có gì phải nghi ngờ về “ý niệm tự do, bình đẳng và bác ái” của nước Mỹ, nếu như cả thế giới không biết đến thực tiễn quá khứ huỷ diệt bằng bom nguyên tử lên đầu nhân dân Nhật Bản và nhân danh tự do để tham chiến ở Iraq, Afghanistan, gần đây là Sryia. Và giờ đây khi khẩu hiệu thuộc về phẩm chất thời hiện đại ấy đã trở thành ý niệm đại diện cho mọi hoạt động tham chiến của Mỹ, thì việc có một tổ chứ ISIS([16]) vươn lên nắm vị trí số 1 trong cuộc chiến chống lại “Tự do – Bình đẳng và Bác ái”, nhằm viết lại lịch sử khai sáng, tiến bộ và cách mạng là điều không có gì lấy làm khó hiểu. Đứng ở góc độ sử tính thì chẳng ai có thể bác bỏ lý luận của nhóm ISIS, vì nội bộ những kẻ tham dự tổ chức ấy hiển nhiên có ý niệm cá biệt về “Tự do – Bình đẳng và bác ái” đại diện cho “tinh thần” Khai sáng, Tiến bộ và Cách mạng mang “màu sắc” HỒI GIÁO. Vậy thì, Tính hiện đại với các giá trị kèm theo của nó, hẳn rằng, cần phải được đánh giá lại với thái độ phê phán triệt để.
Ngay từ khởi thuỷ của ý thức khai sáng, chủ thể khai sáng thường bao hàm trong quá trình “thoát li khỏi tình trạng vị thành niên” một ý niệm tiến bộ. Ý niệm tiến bộ như là ý thức hướng tới mục đích cao cả nhằm đoạn tuyệt tư tưởng ấu trĩ do “sự hèn nhát” trước đó gây ra, vì vậy về bản chất, tinh thần khai sáng thường được đồng quy tại một điểm với ý niệm tiến bộ. Một sự nhận ra tình trạng “ấu trĩ” về tư tưởng luôn là một động thái tiến bộ, trước hết là đối với chính chủ thể, và sau đó là đối với quần chúng – đối tượng mà chủ thể thực hành ý thức tiến bộ lên những cá nhân và cộng đồng bên ngoài. Tuy nhiên, ý niệm tiến bộ tự thân nó lại có hướng tách ra khỏi thái độ khai sáng để nhằm hiện thực hoá đời sống theo cách thức mà nó tiến hành, thông qua hành động cách mạng xã hội([17]) hoặc cách mạng khoa học[18]. Khi có sự hậu thuẫn của những tác nhân khách quan nhằm thực hiện một sự thay đổi triệt để về mặt thực tiễn theo sự chỉ dẫn của ý niệm tiến bộ, thì khi đó loài người sẽ bước vào “gian phòng riêng” mà ý niệm ấy sắp đặt, theo hai hướng: Bị động hoặc chủ động.
Những cuộc cách mạng xã hội đa phần là đặt con người vào tình huống bị động trước ánh sáng của “ý niệm tiến bộ”; sự chủ động của con người trong cuộc cách mạng ấy thường thuộc về lớp “tinh hoa” nắm quyền lãnh đạo cách mạng hoặc thuộc về cá nhân sản sinh lý luận nhằm cụ thể hoá ý niệm ấy trong đời sống khách quan. Trong khi đó, Quần chúng trong các cuộc cách mạng xã hội, đa phần là những lớp người bị động, hoặc trở thành “người học trò trung thành” của “lớp tinh hoa”, lãnh đạo lớp người ấy hướng đến cái đích “tiến bộ” với những khẩu hiệu mang màu sắc đặc trưng của cuộc cách mạng do họ cầm đầu. Vì vậy, ý niệm tiến bộ mang màu sắc chính trị và sự thực hành ý niệm tiến bộ của các cuộc cách mạng xã hội thường không vững chắc. Nó luôn có nguy cơ bị thay thế hoặc bị quy kết vào tình trạng phản tiến bộ (lạc hậu) hoặc phản cách mạng, khi có một ý niệm chính trị tiến bộ mới ra đời, được sự ủng hộ của những lớp quần chúng mới có hướng thay thế ý niệm chính trị “tiến bộ” cũ. Sự thay thế đó không chỉ đơn thuần là sự bác bỏ lẫn nhau của các ý niệm tiến bộ được chủ thể khai sáng, mà còn phản ánh bản chất dễ suy yếu và đổi thay của hoạt động ý thức xã hội.
Dường như có vẻ đối lập với ý niệm tiến bộ của các cuộc cách mạng xã hội, các cuộc cách mạng khoa học đã tìm cách đưa ý niệm tiến bộ thống nhất với hoạt động khai sáng hơn: Hướng đến một thế giới mà lý trí được tự do tuyệt đối và phủ bóng ảnh hưởng của nó trong mọi ngõ ngách đời sống. Chủ thể của các cuộc cách mạng khoa học thường là những cá nhân chủ động về lý trí, hướng ý niệm tiến bộ của trí tuệ đến một sự cải tạo khách quan triệt để sau khi trải qua quá trình phê phán đối với tàn dư của trí tuệ cũ. Các cuộc cách mạng khoa học ra đời đã hiện thực hoá những ý niệm tiến bộ, đem lại công năng thúc đẩy một đời sống phát triển toàn diện. Trong thế giới của cuộc cách mạng đó, người ta sẽ thấy dường như chẳng có “lớp học trò ưu tú” nào có thể kiên trì triệt để được đối với các thuộc tính của tri thức khách quan; mà tất cả họ, trong ý thức tự chủ nhất thường là những người lãnh đạo cách mạng tri thức gần như tuyệt đối.
Cuộc chiến về mặt trí tuệ chống lại thói bảo thủ cùng những lý luận thiếu vững chắc của các lý thuyết gia đã là nền tảng kéo ý thức khai sáng không ngừng vận động cùng một lúc với sự khai phóng các ý niệm tiến bộ. Theo cách thức ấy, các cuộc cách mạng về khoa học không ngừng được báo trước trong một viễn cảnh có thể kiểm soát được về mặt lý tính. Ngày hôm nay, khi một triết gia đã lên tiếng chống lại các thước đo chuẩn mực của triết học truyền thống với một thái độ phê phán không thương tiếc quá khứ như Foucault, góp phần minh định các giá trị tiến bộ phù hợp với bối cảnh hiện đại của ý thức khai sáng, thì ngày mai, rất có thể sự tiến bộ mà ông đã đặt ra trong triết thuyết của mình sẽ bị phê phán bởi một triết gia khác. Và sau mỗi lần phê phán ấy, thế giới lại bước vào một cuộc cách mạng tri thức mới. Nó cho thấy tính chất luôn đổi thay của ý niệm tiến bộ khoa họccủa các cuộc cách mạng khoa học.
Sự bất thuận giữa các cuộc cách mạng xã hội và các cuộc cách mạng khoa học, cho thấy tính chất không vững bền của ý niệm tiến bộ và hành động cách mạng so với ý thức khai sáng. Cũng giống như Jean Paul Sartre hay các nhà hư vô chủ nghĩa, tiến bộ và cách mạng sẽ chẳng bao giờ thành tựu được chân lý tuyệt đối cũng như chẳng thể có được sự ảnh hưởng phổ quát của nó lên hiện thực, bởi vì, người ta chẳng thể nào tìm ra cơ sở để biến các ý niệm gọi là “tiến bộ” cũng như các hành động gọi là “cách mạng” trở thành một thứ chân lý vĩnh cửu cho tồn tại khách quan. Khai sáng, tự bản thân nó vừa bao hàm ý niệm tiến bộ và tinh thần cách mạng; đồng thời, Khai sáng và Tiến bộ cũng cùng nhau vận động, phát triển biện chứng theo vòng tròn xoáy ốc, mà ở đó, Khai sáng ở giai đoạn sau gặp gỡ Khai sáng ở giai đoạn trước tại cùng một điểm theo các cấp độ ngày càng cao hơn mỗi khi vai trò của Tiến bộ bị thoái trào. Khai sáng, vì thế là một thuộc tính trung hoà trong các hoạt động ý thức của chủ thể.
Con người hiện thời dễ bằng lòng với sự tiến bộ của kỹ thuật và công nghệ, cũng như dễ bằng lòng với sự phát triển không ngừng của ý niệm “tự do” và “lý tính”. Nhưng bản thân “cái hiện thời” (the presence) ấy cũng đã từng phải trải qua những khoảnh khắc bị quy kết và phê phán đối với “những cái đã qua”, mà “tự cái đã qua” trong hoàn cảnh ban đầu của nó đã từng là cái tiến bộ. Chiếc điện thoại thông minh hay công nghệ lai ghép hữu cơ của ngành sinh học được con người hiện thời (cái khoảnh khắc đương đại) xem như là sự tiến bộ của cách mạng khoa học, thế nhưng, để có cái tiến bộ hiện thời ấy, lịch sử loài người đã phải từng thử nghiệm với vô số những chiếc điện thoại dây, thô sơ thời cổ điển, cũng như đã từng phải thực hiện vô số những ca ghép vô cơ đơn giản trên thân cây. Ai đó có thể rất dễ dàng trong việc chỉ ra cái lỗi thời của chiếc điện thoại dây cũng như kỹ thuật cấy ghép trên thân cây trong quá khứ so với chiếc điện thoại thông minh và công nghệ nhân bản vô tính hiện thời, nhưng với lịch sử, cái quá khứ của sự ra đời chiếc điện thoại dây và kỹ thuật ghép thô sơ trên thân cây, thoạt tiên nó luôn là một ý niệm tiến bộ và là một bước ngoặt của “công nghệ” thuộc thế kỷ 18 – 19.
Cái tiến bộ hiện thời, do đó, không thể được xem như là cái đích so với “cái tiến bộ” đã qua trong quá khứ, mà nó là một quá trình phát triển của ý thức Khai sáng, phản ánh bản chất vận động biện chứng không ngừng của trí tuệ. Nếu ai đó, ngày nay có quan niệm về sự bất tương xứng hay độ kênh về lịch sử giữa ý niệm tiến bộ và cách mạng khoa học, thì hiển nhiên, họ đã vấp vào vòng xoáy vô hình của cái bẫy TIẾN BỘ. Cuộc tranh cãi giữa những người theo chủ nghĩa xã hội và những người theo chủ nghĩa tư bản về vai trò của ý niệm tiến bộ trong cách cuộc cách mạng xã hội, cho thấy tính chất Phản- Khai sáng của quá trình phê phán lẫn nhau. Các nhà cách mạng xã hội dù ở cực Tư bản chủ nghĩa hay Xã hội chủ nghĩa sẽ chẳng thể nào tìm ra một chung cuộc cho lịch sử, nếu như họ chỉ dựa vào ý niệm tiến bộ để công kích nhau, mà chẳng thể hướng con người đến một sự thống nhất chung về cách thức giải quyết tồn tại xã hội. Dẫu loài người có bằng lòng với lý thuyết của Karl Marx như một thứ quyết định luận lịch sử với năm dạng thức của Hình thái kinh tế - xã hội, hay kiên quyết phủ nhận năm dạng thức ấy để tiến tới xác lập thế giới theo kiểu một dạng thức Hình thái kinh tế - xã hội, hay hai dạng thức Hình thái kinh tế - xã hội, thậm chí là “N” dạng thức Hình thái kinh tế - xã hội…đi nữa, thì các dạng thức ấy, chung quy cũng chỉ là các “diễn ngôn” triết học hoặc chính trị khác nhau về cùng một dạng tồn tại xã hội duy nhất là: Thực tiễn khách quan từ khởi thuỷ thế giới cho tới thời hiện đại.
Điều này cho thấy rằng, con người chẳng có cơ sở vững chắc nào để kết luận về các cuộc cách mạng xã hội cụ thể là tiến bộ duy nhất. Sự hoài nghi của những nhà triết học về các cuộc cách mạng xã hội cũng chẳng khác gì so với sự hoài nghi về nguồn gốc của con người là do Chúa tạo ra hay do tự nhiên mà có? Tất cả sự hoài nghi ấy dường như đều có căn nguyên chung là từ chính các ý niệm tiến bộ qua các thời đại xã hội đã bị “giới tinh hoa” tự cho mình cái quyền tuyệt đối hoá nó với chân lý khách quan của đời sống con người. Điều này phản ánh sự thật khách quan, tự cái ý niệm tiến bộ luôn dự báo trong nó về tính chất phản- tiến bộ, một khi ý niệm “tiến bộ mới” ra đời và thay thế nó. Vậy thì ý niệm tiến bộ, giờ đây chỉ còn là ý nghĩa của các giá trị được con người phát minh thông qua lý tính phù hợp với tính chất, trình độ, cũng như nhu cầu của hiện thực mà Marx đã nói, chứ nó không phải là một thứ chân lý tuyệt đối. Điều này cũng tương ứng với ý niệm tiến bộ là các cuộc cách mạng xã hội mà con người tạo ra nhằm hiện thực hoá ý niệm tiến bộ xã hội, không bao giờ là một thứ chân lý vĩnh cửu. Nó luôn có nguy cơ bị đẩy lùi vào tình trạng phản tiến bộ hoặc bị “di trú” vào tình trạng “vị thành niên” của ý thức xã hội, cũng như mấp mé trên bờ phản-cách mạng, nếu như chủ thể của ý niệm tiến bộ không thực hiện tiếp ý thức Khai sáng phù hợp với thực tiễn khách quan ở các giai đoạn sau. Vì vậy có thể nói, Khai sáng đã ôm trọn trong nó các nguy cơ của khả năng tiến bộ và lạc hậu, của cách mạng và phản cách mạng, của tình trạng vị thành niên và sự trưởng thành. Tự thân khai sáng đã thực hiện nghiêm ngặt các thước đo của một dạng biện chứng pháp giữa các mặt đối lập trong cùng một thực thể. Nó là quá trình mà chủ thể không ngừng đấu tranh với các ý niệm tiến bộ vừa được sản sinhcái nguy cơ lạc hậu của chính ý niệm tiến bộ ấy sẽ đến trong một tương lai kế tiếp.
Các vấn nạn mà Tính hiện đại đặt ra không chỉ duy nhất thuộc về thời hiện đại, mà dường như nó là ý niệm phổ quát thuộc về mọi thời đại. Khẩu hiệu “Tự do – Bình Đẳng – Bác ái” dường như gắn liền làm một với ý niệm về Tính hiện đại. Nếu có khác biệt chăng, thì sự khác biệt ấy cũng nằm ở quá trình hợp thức hoá các ý niệm tính hiện đại tương ứng với nhu cầu thực tiễn khách quan ở từng thời đại đặt ra cho nó. Một nhà sử học có thể bác bỏ logic trên bằng các cứ liệu lịch sử có từ thời nhà nước Bộ lạc - Thị tộc hoặc Phong Kiến…Nhưng ngay cả khi họ đưa ra các kiểu nhà nước tương ứng với các Hình thái kinh tế - xã hội như Marx nói, thì cũng không thể nào bác bỏ được logic hiển nhiên rằng: Trong các hình thái nhà nước hoặc xã hội cổ xưa ấy luôn có chỗ cho sự Tự do – Bình đẳng – Bác ái tồn tại theo ý hướng riêng của Con Người thuộc giai đoạn đó. Sẽ chẳng ai có quyền yêu cầu một tín đồ Cơ Đốc ở giai đoạn Trung Đại phải chấm dứt việc thờ Chúa, cũng như phủ nhận vai trò “tự do” khi ở bên Chúa, vì ở ngay trong chính căn nguyên cội rễ của ý thức “tiến bộ” thời điểm anh ta sống, tự Chúa đã là biểu tượng của Tự do, Bình đẳng và Bác ái. Cũng như thế, ở thời điểm Phật sống cùng các giáo lý của ông đã thúc giục người dân ở xứ Ca Tỳ La Vệ (Kapilvastu) hướng tới một ý niệm tiến bộ: “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” mang màu sắc văn hoá riêng của xứ Nepal và của khu vực phương Đông. Điều này cho thấy, đâu phải đến thời hiện đại mới xuất hiện tính hiện đại hoặc mới có chủ trương phải giải phóng con người, hướng con người đến một xã hội “Tự do – Bình đẳng – bác ái”? Hiển nhiên, nếu đứng dưới góc nhìn Khai sáng, thì Tính hiện đại dường như được hiểu giống như các thuộc tính của Tiến bộ. Phải chăng có một mối quan hệ giữa tính hiện đại với thuộc tính siêu nghiệm hoặc phổ quát nào đó ở đây?
Jürgen Habermas có lý khi đã kéo dài cái “dự án hiện đại” này tới cấp độ cực đại của ý niệm phổ quát, bao trùm mọi con đường của lịch sử. Và hơn hết, với ông, Hiện đại tính luôn là một dự án dang dở, nó sẽ còn rong ruổi mãi trên con đường bồi đắp những khiếm khuyết của ý thức xã hội theo thời gian, cho tới khi nào nhân loại ngừng thở, thời gian ngừng trôi, và lịch sử đi đến chung cuộc. Còn Walter Benjamin thì hài hước và có phần thi vị hơn khi ông xem tự thân “Thương xá” đã nói lên cái lịch sử kinh doanh từ khi con người biết làm quen với buôn bán, và kéo dài tới khi nào chuỗi lịch sử kinh tế bị cáo chung. Điều ấy cũng tương tự như khi con người ở các quốc gia khác nhau phát âm, đọc các ký tự ngôn ngữ khác nhau xuất phát từ một hướng hiểu chung về ý nghĩa của các từ mà họ dùng để đọc, viết hay nói([19]).
Chúng ta sẽ nhận ra trong cách nói thi vị của Benjamin hay lối phê phán triết học chặt chẽ của Habermas một thuộc tính gì đó nằm trọn vẹn về khái niệm Tính hiện đại, như thể là các cách nói khác nhau về cùng một ý hướng làm cho cái Tiến bộ trở nên hoàn hảo qua mỗi chặng đường lịch sử. Và tinh thần mà cái Tiến bộ luôn hướng đến, đó là, đảm bảo về một loại cảm giác ưu trội của lý tính giữa các giai đoạn, thời kỳ mà chủ thể khai sáng tự giải phóng mình. Ngày nay con người dễ dàng cho mình cái quyền phát ngôn như một cá nhân tự do trên mạng xã hội hay quyền được đối thoại với bất cứ cá nhân nào, không phân biệt đẳng cấp, địa vị, giới tính…, thế nhưng dường như cái quyền của con người hiện đại ấy chẳng khác xa bao nhiêu so với ý hướng mà con người trong quá khứ tiến hành để triển khai ý niệm về tự do; nếu có khác nhau ở đây, thì sự khác nhau đó chỉ là sự khác nhau trong các diễn ngôn và trong kỹ thuật ngôn thoại. Sự vận động lịch sử, giờ đây, đúng như cách nói của Foucault chỉ là sự thay thế lẫn nhau của các diễn ngôn về cùng một ý niệm, hoặc như cách nói của Benjamin trong tiểu luận Nhiệm vụ của dịch giả sự “chuyển dịch” khác nhau của các Hình thái từ của cùng một ý nghĩa mà nó bao hàm.
Ở đây, dường như có điều gì đó đã làm cho ý nghĩa của từ Tiến bộ bị thâu tóm vào vòng phi lý của Tính hiện đại, khiến nó bị sa lầy vào sự khủng hoảng trong các cách diễn đạt của triết học. Phải chăng Tính hiện đại đã trở thành tấm gương về mặt trí tuệ để những cái tiến bộ soi mình vào đó nhằm thay thế lẫn nhau? Và phải chăng chúng ta đang tự soi mình trong các ký ức về Khai sáng? Mỗi giai đoạn khác nhau của nhận thức là mỗi giai đoạn mà con người tự soi mình trước “bóng ma hiện đại tính” nằm sâu trong tâm hồn, để rồi sau mỗi lần soi chiếu ấy, con người biết mình cần phải điểm xuyết các chức năng thời đại nào để đem đến cảm giác được là người tiến bộ. Nếu quả đúng như vậy, thì, khai sáng xem ra gắn liền làm một với thuộc tính phê phán, giúp con người đối diện với “hình bóng” quá khứ của mình trong tấm gương phản ánh tính hiện đại với những truy vấn dường như chống lại sự chặt chẽ của triết học, rằng: Điều gì đã làm cho con người hôm nay khác biệt so với “hình ảnh” của con người ngày hôm qua; triết học lấy gì để đảm bảo rằng, “con người hôm nay” sẽ tốt đẹp hơn con người của ngày hôm qua?
Sự truy vấn ấy đã kéo triết học vào sự luẩn quẩn của thuyết hư vô, mãi đuổi bắt theo sự hoài nghi không bao giờ dứt. Trong khi đó, cái mà con người cần đạt đến một sự giải phóng về mặt ý niệm giữa con người hôm nay và con người hôm qua không phải nằm ở cảm giác tiến bộ về mặt thời gian, mà chính là nằm ở sự phê phán nhằm đưa đến bác bỏ hình ảnh ghì néo cái hiện thời với cái quá khứ. Nhân loại muốn thoát khỏi sự luẩn quẩn giữa tiến bộ và lạc hậu (dã man) về mặt lịch sử, xem ra cần phải đả phá ngay cái ý niệm phổ quát của Tính hiện đại để bắt đầu một nền móng mới. Và Khai sáng chính là cách để con người bắt đầu một sự thanh tẩy các ý niệm phổ quát, hay nói như Jean-François Lyotard là đả phá các Đại tự sự nằm sâu trong căn tính của suy tư, thông qua và bằng hành động phê phán.
Thái độ phê phán trong khi khai sáng của chủ thể cá biệt và sau đó hướng tới hành động khai phóng ý thức xã hội sẽ đưa tính hiện đại vào trạng thái luôn phải bắt đầu tại điểm xuất phát của lịch sử. Sẽ không còn tồn tại ý niệm về tính hiện đại theo nghĩa phổ quát và siêu nghiệm, mà chỉ còn những cách thức do con người đương thời sử dụng nhằm gia cố các ý niệm tiến bộ trong dòng chảy lịch sử của tính hiện đại được truyền thống tư tưởng nhân loại tạo ra như là thước đo của sự sản sinh lý tính dồi dào.
Khai sáng cũng đặt tính hiện đại vào trạng thái không ngừng vận động với thời đại, để thích nghi với ý thức xã hội hiện thời mà con người đặt ra như một mưu cầu cần được đáp ứng. Đồng thời, tính hiện đại trong sự phát triển của nó cũng kèm theo những giá trị tích cực từ truyền thống văn hoá, truyền thống tri thức, góp phần tác động ngược trở lại quá trình khai sáng của chủ thể. Khai sáng theo nghĩa hiện thời xem ra cần được hiểu như là quá trình phát hiện “sự nương nhờ” của trí tuệ vào “quá khứ tư tưởng”, là quá trình con người “nhận ra” tình trạng “vị thành niên” của mình, để từ đó có những lựa chọn giải phóng một cách tích cực.
Ý hướng tìm đường giải phóng ấy của chủ thể bị chi phối từ tập quán truyền thống tư tưởng về tính hiện đại sẽ thúc đẩy cái tiến bộ tích cực ra đời. Sự khai sinh của cái tiến bộ mới không chỉ là kết quả của Khai sáng, mà còn là kết quả của lịch sử và là hành trình vận động không ngừng của tính hiện đại. Chính vì sự tác động biện chứng giữa Tính hiện đại và Khai sáng lên sự Tiến bộ, cho nên tự thân cái Tiến bộ sẽ chẳng bao giờ thành tựu được chân lý tuyệt đối. Và bản thân cái Tiến bộ sẽ có nguy cơ biến thành cái Lạc hậu khi nhu cầu thời đại thay đổi. Đến khi đó, Khai sáng lại tiếp tục khẳng định vai trò của nó trong việc sản sinh ra cái tiến bộ mới nhằm thay thế cái tiến bộ cũ đã biến chuyển trở thành lạc hậu.




Chú thích:

[1] Alain Touraine, Triết gia, nhà xã hội học Pháp. Ông là cha đẻ của thuật ngữ “xã hội hậu-công nghiệp”(société post-industrielle), và là tác giả của những tác phẩm nổi tiếng: “The Post-Industrial Society. Tomorrow's Social History: Classes, Conflicts and Culture in the Programmed Society” (1971)(“Xã hội Hậu-công nghiệp: Lịch sử xã hội ngày mai: Giai cấp, xung đột và văn hoá trong xã hội chương trình”); “The Self-Production of Society” (1977) (“Sự tự sản xuất của xã hội”); “New Paradigm for Understanding Today's World” (2007) (“Hệ hình mới cho sự hiểu Thế giới ngày nay”)…
[2] Tác phẩm Phê phán tính hiện đại (Critique de la modernité) là tác phẩm quan trọng của Alain Touraine, góp phần làm nên tên tuổi của ông. Tác phẩm được xuất bản lần đầu vào năm 1995, sau đó được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Tác phẩm là công trình nghiên cứu tổng quan về quá trình hình thành và phát triển của tính hiện đại trong toàn bộ lịch sử triết học phương Tây và là tác phẩm được nhiều triết gia tên tuổi trên thế giới trích dẫn trong khi bàn luận về lý thuyết phê phán triết học.
[3] Hiện đại – một dự án bất tận là một trong những tiểu luận quan trọng của Jürgen Habermas  - một trong những triết gia lớn của thế kỷ 20. Tiểu luận là một phác thảo tổng quan của tác giả về phê phán tính Hiện đại dựa trên lập trường của Chủ nghĩa Hậu hiện đại. Trong tiểu luận này, Jürgen Habermas đề cập tới nhiều vấn đề, trong đó, ông xem nghệ thuật là cái cuối cùng còn giữ lại nhưng nét đặc trưng của một thứ lý tính cá biệt tuyệt đối, là nơi tập trung các nguyên tắc cao nhất của tự do sáng tạo. Xin xem: Jürgen Habermas, Hiện Ðại - Một Dự Án Bất Tận. Bản dịch tiếng Việt của Trần Văn Đoàn.
Nguồn: http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/hiendai/hiendai1.htm
[4] Dẫn theo cách nói của A. Camus.
[5] Kể từ khi cuộc cách mạng tư sản nổ ra đầu tiên tại Pháp năm 1789, tinh thần “tự do – bình đẳng và bác ái” đã trở thành phương châm sống và là mục đích hướng đến của con người. Vì tự do và bình đẳng được con người xem như là một mưu cầu và là quyền cơ bản, cho nên nó đã góp phần phát huy tối đa khả năng trí tuệ của con người, tạo ra nguồn của cải xã hội vô cùng lớn. Kèm theo sự phát triển mạnh mẽ của đời sống vật chất thì một thế giới máy móc cũng được tạo ra và ngày càng được cải tiến đạt đến đỉnh cao của dây truyền công nghiệp sản xuất hiện đại. Con người hiện đại được giải phóng đôi tay ra khỏi sức nặng của lao động, nhưng lại trở thành nô lệ của máy móc về mặt tinh thần. Máy móc, công nghệ, ban đầu chỉ là công cụ được con người tạo ra nhằm gia tăng năng suất và chất lượng đời sống, nhưng sau đó, nó nhanh chóng lan toả sự ảnh hưởng sang tất cả các mặt của đời sống, đặc biệt và đời sống văn hoá và tinh thần. Sự trỗi dậy của công nghệ nghe nhìn đã ràng buộc con người vào các thói quen của một đời sống ảo. Con người dần thu hẹp sự ảnh hưởng của mình trong giao tiếp cộng đồng. Sự gắn kết xã hội giữa các thành viên bị đứt gãy, thay vào đó, con người đã chấp nhận lựa chọn lối sống đơn độc bên chiếc điện thoại thông minh hoặc bên các phương tiện truyền thông công nghệ cao. Con người “ít ngôn thoại” với xã hội hơn, thay vào đó, “đôi mắt” của họ làm việc nhiều hơn. Một thế giới ban đầu được tạo ra với mục đích khuyến khích con người hướng đến một đời sống tự do, bình đẳng bao nhiêu, thì giờ đây, trong đời sống máy móc, con người lại ít có khoảnh khắc được tự do là mình và bất bình đẳng trước kỹ thuật bấy nhiêu.
[6] Theo Tổ chức viện trợ và phát triển toàn cầu Oxfam đưa ra trong báo cáo mới nhất, thì:
Sự chênh lệch giàu nghèo ngày càng lớn. Tại nhiều nước, người giàu chỉ chiếm thiểu số trong xã hội nhưng lại có vai trò chính yếu định hình khối tài sản của một quốc gia và xu hướng này đang gia tăng, không chỉ tại các nước giàu mà cả các nước nghèo. Theo thống kê của Oxfarm, khu vực châu Phi cận Sahara, khu vực nghèo của thế giới, có tổng cộng 16 tỉ phú đô la bên cạnh 358 triệu người nghèo đói cùng cực. Khoảng cách giữa người giàu và người nghèo tại Nam Phi càng lớn do nạn phân biệt chủng tộc tại nước này. Tại Mỹ La-tinh, số tỉ phú tăng 38% trong một năm qua và tăng gần gấp đôi trong giai đoạn từ năm 2008-2014. Trong khi đó, khoảng cách giàu-nghèo khiến khu vực này tụt hậu nhiều thập kỷ trong cuộc đấu tranh xóa đói giảm nghèo. Oxfam cũng nêu rõ sự bất bình đẳng kinh tế bùng nổ khắp thế giới trong 30 năm qua là một trong những thách thức kinh tế, xã hội và chính trị lớn nhất trong thời đại, đòi hỏi các chính phủ và  tổ chức quốc tế hành động mạnh mẽ để đảo ngược tình thế này. Đầu năm nay, Oxfarm đã công bố báo cáo tựa đề “Làm việc cho thiểu số”, cho thấy bức tranh về khoảng cách giàu nghèo trên thế giới hiện nay,  đồng thời cảnh báo những rủi ro lớn mà sự chênh lệch giàu nghèo có thể đặt ra cho “tiến bộ nhân loại”. Dẫn theo Phúc Minh tại: “Khủng hoảng tài chính mở rộng khoảng cách giàu nghèo?”. Nguồn: http://www.thesaigontimes.vn/122200/Khung-hoang-tai-chinh-mo-rong-khoang-cach-giau-ngheo?.html.
[7] Chưa khi nào, tình trạng bạo lực lại xảy ra thường xuyên và đẫm máu như trong xã hội hiện đại thuộc thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21. Hàng chục triệu người chết trong thế chiến 1 và 2 thuộc thế kỷ 20; và hàng trăm nghìn người bị hành quyết hoặc bị tàn sát trong các cuộc bạo loạn của phiến quân…là những con số nói lên sự tàn bạo, cũng như “Bản năng gây chiến” của con người trong xã hội công nghiệp và hậu công nghiệp. Ngày nay, mỗi sáng, chỉ cần một click đơn giản trên hệ thống các website báo Online, chúng ta cũng có thể dễ dàng bắt gặp các thông tin rợn người về những vụ “hành quyết” giữa người với người. Dường như, chủ đề “giết người” đã trở thành một mục không thể thiếu trong các bản tin thường nhật. Con người hiện đại đang tự tà sát lẫn nhau và huỷ diệt nòi giống của nhau.
[8] Câu chuyện nhà nước ISIS là một ví dụ điển hình của cuộc đụng độ giữa phe phiến quân và các “ông chủ” tư bản. Những tổ chức khủng bố lớn nhỏ ra đời trước đó, như: Lực lượng vũ trang cách mạng Colombia, tổ chức Hamas, PKK (Đảng Công nhân người Kurd), Al Shabaab, Ku Klux Klan, Jabhat al-Nusra, Taliban…, và đặc biệt là Al-Qaeda như là một “cực quyền lực nóng” của thế giới, được lập nên nhằm mưu đồ viết lại lịch sử của Tiến bộ, của Tự do, Bình đẳng và Bác ái mang màu sắc bạo lực.
[9] Nhóm liên minh G8 và Nhà trắng (Mỹ) luôn nhân danh con người, nhân danh Tiến bộ, Tự do và nhân quyền để thực hiện các cuộc công kích vào các quốc gia mà họ cho là đang nuôi dưỡng mầm mống của chủ nghĩa khủng bố, nhưng kỳ thực, các cuộc tấn công của họ chủ yếu nhằm vào dân thường và các khu dầu mỏ đã cho thấy “một Thiên đường tàn bạo” khác đã được dựng lên bên trên một “thiên đường giả hiệu” của những Ông chủ Tư bản thế giới. Những tuyên bố của chính quyền nhà trắng trong lịch sử chính trường Mỹ dường như là minh chứng rõ nét nhất cho cái gọi là độ kênh giữa lời nói với hành động của các đời tổng thống.
(Xin tham khảo thêm bài viết: “30 năm qua, Mỹ đã tấn công những quốc gia nào?”. Nguồn: http://www.vietnamplus.vn/30-nam-qua-my-da-tan-cong-nhung-quoc-gia-nao/218547.vnp)
[10] Trong tác phẩm kinh điển Also sprach Zarathustra (Zarathustra đã nói như thế) được viết vào năm 1883, thông qua hành động lập ngôn của nhân vật Zarathustra, Nietzsche đã góp phần xây dựng nên “lý thuyết siêu nhân” trong triết học. Siêu nhân theo Nietzsche là những con người biết vượt qua chính mình bằng tri thức, dám hiểu biết, dám mang theo chiếc búa để “đập vỡ” các tượng đài về tri thức, hạ bệ các huyền thoại tư tưởng xuất hiện trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Nhiều triết gia lớn như Socrates, Plato, Hégel…, là những “thần tượng” về tư tưởng bị Nietzsche hạ bệ dưới “cây búa” triết học của ông. Lý thuyết siêu nhân của Nietzsche, sau đó đã bị Adolf Hitler lợi dụng để củng cố sức mạnh quyền lực của chủ nghĩa Phát Xít Đức, tiến hành các cuộc thảm sát kinh hoàng, giết hại hàng triệu người vô tội, trong đó chủ yếu là người Do Thái – Giống nòi tiêu biểu cho sự thông minh ưu trội của con người trên trái đất.
[11] Trong bộ phim The Great Dictator vua hài Charles Chaplin đã cảnh báo đối xã hội loài người hiện đại về sự thống trị của máy móc và tình trạng vô cảm, rằng:
 “Tôi xin lỗi nhưng tôi không muốn làm hoàng đế các bạn - đó không phải chuyện của tôi. Tôi không muốn ra lệnh hay chế ngự ai. Tôi chỉ muốn giúp mọi người nếu có thể, Do Thái, ngoại đạo, da đen, da trắng... Tất cả chúng ta đều muốn giúp một người khác, con người là thế đó. Chúng ta muốn sống vì niềm vui của người khác, không phải những khổ đau của họ. Chúng ta chẳng muốn ganh gét và khinh thường người khác. Thế giới này có đủ chỗ cho mọi người và trái đất màu mỡ có thể cung cấp đầy đủ cho mọi người. Cuộc sống có thể được tự do và tươi đẹp. Nhưng chúng ta đã lạc lối. Lòng tham đã đầu độc tâm hồn con người. Đã cản trở thế giới bằng ganh ghét. Đã diễu hành chúng ta đi vào đau thương và đổ máu. Chúng ta phát triển tốc độ nhưng chúng ta đã khép kín chính mình lại. Những cỗ máy cho ta của cải dư thừa nhưng chúng ta vẫn còn tham lam. Kiến thức làm chúng ta thích mỉa mai nhau. Thói khôn lanh của chúng ta cứng nhắc không tốt lành. Chúng ta suy nghĩ quá nhiều nhưng cảm nhận quá ít. Hơn những cỗ máy chúng ta cần tình người. Hơn thói khôn lanh chúng ta cần tử tế và hòa nhã”
(Nguồn: http://amara.org/en/videos/inCPrdWkipIf/vi/185138/)
 Với những gì mà loài người đang phải chứng kiến ngày nay đã minh chứng cho tính đúng đắn trong “thông điệp mang ý nghĩa tiên tri” mà Vua hài của nhân loại đã đặt ra vào năm 1939.
[12] Xin xem: E. Fromm (2007). Trốn thoát tự do. Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội.
[13] Lý trí hiện đại thường đề cao các phạm trù mang ý nghĩa phổ quát, toàn trị. Những ý niệm phổ quát đó có thể là các học thuyết triết học như: Chủ nghĩa Marx, Triết học Phật Giáo, thần học triết học Ki Tô…, hoặc là học thuyết chính trị như: Chủ nghĩa Stalin, Chủ nghĩa Mao Trạch Đông, chủ nghĩa Phát Xít… Dưới nhãn quan của các triết gia hậu hiện đại thì các ý niệm phổ quát ấy được gọi là các Đại tự sự, và họ yêu cầu con người cần phải “đả phá” các đại tự sự đó
[14] Lý trí hậu hiện đại đề cao trí tuệ của từng cá thể nổi trội, vì vậy loại lý trí này thường tồn tại dưới dạng các quan điểm hoặc các luận thuyết trong một hoặc một vài lĩnh vực nhất định, nó không mang tính chất phổ quát hoặc tính toàn trị. Các nhà Hậu hiện đại gọi loại lý trí này là các “Tiểu tự sự”, vì vậy, dưới nhãn quan của họ, các cuốn sách dạy nấu ăn hay sách dạy chăm sóc thú vật cũng là những tự sự biểu hiện cho sức mạnh của lý trí cá nhân.
[15] Khai hoá (tiếng Pháp: Civiliser) là thuật ngữ do các nhà thực dân chủ nghĩa tạo ra, nhấn mạnh đến vai trò “mở mang văn minh” của quốc gia tiến bộ đối với các nước thuộc địa. Vì vậy, khai hoá là một động thái tiêu cực, lợi dụng “Khai sáng” (tiếng Pháp: Les Lumières) như là bức bình phong nhằm hợp thức hoá quá trình khai thác thuộc địa của “nhà nước bảo hộ”. Khai hoá, do đó, thực chất là hành động Nguỵ- Khai sáng, nhằm áp đặt “sự phân biệt” về trình độ dân trí giữa “nhà nước bảo hộ” đối với “nhà nước bị bảo hộ”. Vì vậy, thực dân Pháp trong quá trình khai thác thuộc địa tại Việt Nam đã gọi Việt Nam lúc đó là Annam mít (tiếng Pháp là: Annamite), có ý phân biệt giữa một xã hội văn minh và một dân tộc lạc hậu, chưa được khai sáng.
[16] ISIS là tên viết tắt của Tổ chức “Nhà nước Hồi giáo Iraq và vùng Cận đông” (Islamic State of Iraq and al-Sham). Đây là một trong những tổ chức khủng bố bạo tàn nhất trong thế giới ngầm. Nhà nước này được thành lập nhờ sự chống lưng của Mỹ dưới cái tên IS (Nhà nước hồi giáo: Islamic State), tuy nhiên, theo một học giả thì IS là thuật ngữ có xuất xứ chính từ Saudi Arabia, với ý nghĩa ám chỉ “một cuộc “hôn nhân” vụ lợi giữa quyền lực chính trị và tôn giáo”. Sau đó IS đã “phản bội” lại ý định của Mỹ, tách ra trở thành tổ chức độc lập mang tên ISI (Islamic State of Iraq - Quốc gia Hồi giáo Iraq) để chống lại chính phủ Iraq và dòng Hồi giáo Shia (thân Mỹ). Từ Iraq, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tại Syria, ISI đã lan rộng ra toàn bộ khu vực Trung cận đông và chính thức đổi tên thành ISIS. Sự ra đời của tổ chức này nhằm hai mục đích chính: “Vừa tiếp tục được lý tưởng thống nhất cộng đồng Hồi giáo (dòng Sunni) khắp thế giới, dưới một thể chế chung hiện hữu (kết hợp tôn giáo với chính quyền), vừa “chuyển hóa” kẻ thù từ chính phủ Iraq dòng Shia dưới sự hậu thuẫn của Mỹ, sang chính quyền Hồi giáo Shia của Syria”. Từ đó đến nay, ISIS với những hành động tàn bạo đã trở thành đối tượng chính cần loại bỏ của chính quyền Obama và Nhóm liên minh G8.
[17] Theo từ điển Wattpad thì Cách mạng xã hội (Social Revulation) có hai nghĩa:
Theo nghĩa rộng, cách mạng xã hội là sự biến đổi có tính chất bước ngoặt và căn bản về chất trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, là phương thức thay thế hình thái kinh tế - xã hội lỗi thời bằng hình thái kinh tế - xã hội cao hơn. Theo nghĩa hẹp, cách mạng xã hội là việc lật đổ một chế độ chính trị đã lỗi thời, thiết lập một chế độ chính trị tiến bộ hơn. Dù theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, thì giành chính quyền vẫn là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội”. Nguồn:http://www.wattpad.com/84394-kh%C3%A1i-ni%E1%BB%87m-c%C3%A1ch-m%E1%BA%A1ng-x%C3%A3-h%E1%BB%99i
[18] Theo từ điển Bách khoa mở Wikipedia thì Cách mạng khoa học (scientific revolution) có nguồn gốc hình thành và ý nghĩa như sau:
Trong lịch sử khoa học, cuộc cách mạng khoa học là một giai đoạn phát sinh nhiều ý tưởng mới về vật lý, thiên văn học, sinh học, giải phẫu học con người, hóa học, và các ngành khoa học khác dẫn tới sự loại bỏ các chủ nghĩa học thuyết đã được đưa ra từ thời Hy Lạp cổ đại đến thời Trung cổ, và đặt nền móng cho khoa học hiện đại. Theo các học giả nổi tiếng, cách mạng khoa học bắt đầu từ việc xuất bản hai công trình làm thay đổi diện mạo của khoa học vào năm 1543 và tiếp tục ảnh hưởng cho đến cuối thế kỷ 17: Công trình của Nicolaus Copernicus là De revolutionibus orbium coelestium (On the Revolutions of the Heavenly Spheres) và công trình của Andreas Vesalius: De humani corporis fabrica (On the Fabric of the Human body). Nhà triết học và sử gia Alexandre Koyré đã đặt ra thuật ngữ Scientific Revolution (cách mạng khoa học) vào năm 1939 để mô tả giai đoạn này. Ý nghĩa của cuộc Cách mạng khoa học là nhằm: Tạo nên sự biến đổi triệt để về chất của lực lượng sản xuất, biến khoa học kỹ thuật thành nhân tố chủ đạo của sự phát triển nền sản xuất xã hội, thành lực lượng sản xuất trực tiếp, dẫn đến sự biến đổi cách mạng trong cơ sở vật chất kĩ thuật của xã hội, trong tính chất và phân công lao động xã hội. Cách mạng khoa học – kỹ thuật tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, đòi hỏi ngày càng nâng cao trình độ học thức chuyên môn, trình độ văn hoá, tổ chức, làm thay đổi thói quen, tập tục lỗi thời; thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế, văn hoá xã hội”.
(Nguồn:http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1ch_m%E1%BA%A1ng_khoa_h%E1%BB%8Dc)

[19] Xem: Walter Benjamin. “Nhiệm vụ của dịch giả”. Bản dịch của Cao Việt Dũng. Nguồn: www.triethoc.edu.vn