Thứ Năm, 10 tháng 4, 2014

“PHÊ BÌNH LÝ TRÍ VĂN CHƯƠNG” CÙNG ĐẶNG PHÙNG QUÂN

Ngô Hương Giang thực hiện



Văn nghệ Trẻ - GS Đặng Phùng Quân (sinh năm 1930), nguyên quán Thái Bình, từng giảng dạy môn Triết tại Đại học Văn khoa Sài Gòn,  là nhà nghiên cứu văn chương, triết học có uy tín. Đối với Đặng Phùng Quân, triết học là một hành động trong khi viết bởi vì từ viết, từ văn bản, tư tưởng sẽ được cấu trúc nên. Đã có lúc Đặng Phùng Quân tự hỏi: triết học có thể như văn chương nghệ thuật không?. Rồi chính ông tự trả lời: không, nó không hấp dẫn giác quan con người để ngấu nghiến hưởng thụ. Nó có thể là độc dược, là thuốc phiện và cần phải có một hành cung tri thức để tiếp cận.

Một số tác phẩm tiêu biểu của Đặng Phùng Quân: Hiện hữu tha nhân với G. Marcel (1969); Triết học và văn chương (1974); Hành trạng tư tưởng giữa hai thế kỉ (2002); Tấu khúc văn chương/ triết lí (2004); Từ điển triết học giản yếu và Triết học nào cho thế kỉ XXI (2010)".

***
GS.TS. Đặng Phùng Quân

1). Kính thưa GS Đặng Phùng Quân. Là một người kiên trì xác lập và xây dựng hệ thống lý thuyết mỹ học và lý luận văn học đi từ Triết học và Văn chương, tới Hành trạng tư tưởng giữa hai thế kỷ, Tẩu khúc văn chương/ triết lý…và gần đây nhất (2012) là cuốn Đường vào văn chương: phê bình lý trí văn chương…, qua “hành trạng ấy” của tư tưởng mà Giáo sư thể nghiệm trong các văn bản của mình, cho thấy dấu ấn của triết học trong quan hệ với văn chương là rất rõ. Phải chăng, ông đang xây dựng cho mình một hệ hình triết học văn chương? Với tầm quan trọng của triết học, đặc biệt là trong kỷ nguyên khủng hoảng của đời sống số hóa, phải chăng, theo Giáo sư, văn học cần hướng trọng tâm vào suy nghiệm hơn là giải thích những vận động của đời sống xã hội?
ĐPQ: Chắc chắn là có một triết học của văn chương, như đã có triết học của sử học, của sinh vật học v.v…tuy nhiên mối quan hệ giữa triết học và văn chương khá phức tạp, như tôi đã chỉ ra “sự khác biệt giữa ngôn ngữ văn chương và ngôn ngữ triết học trong việc diễn đạt kinh nghiệm vũ trụ được tri giác nơi con người” khi xét đến mối quan hệ này ngay từ quyển sách “Triết học và Văn chương” xuất bản năm 1974. Kể từ đó trong những quyển sách kế tiếp, tôi đã phác họa quá trình tiến triển của triết học và văn chương trong suốt một thế kỷ qua. Về mặt triết học,  chủ nghĩa chống nhân bản như một tuyên ngôn của tư trào triết học nổi lên chung quanh thập niên 60 dưới một hình thái mới mệnh danh là cấu trúc luận bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau (nhân học, phân tâm học, phê bình văn học v.v..). Triết học trong thời kỳ này là triết học khái niệm thay thế cho triết học ý thức để đi tới một học thuyết về khoa học, sáng tạo ra những khái niệm mới. Về mặt văn học, sự xuất hiện của phong trào “Tiểu thuyết mới/Nouveau Roman” ở Pháp, phong trào “Tiểu thuyết thực nghiệm/Experimental Novels” ở Mỹ, luận điểm về “cái chết của tác giả” trong phê bình văn học mới, thuyết huỷ tạo/Deconstruction của Jacques Derrida xâm nhập văn học Mỹ. Một nét đặc thù của thế kỷ XX là phê bình luận văn chương trở thành một khoa học; nhà phê bình phải trang bị những kiến thức triết học và ngữ học. Cuộc cách mạng Nga 1917 đã dẫn khởi hai nguồn phê bình luận văn chương quan trọng: chủ nghĩa Hình thái và Lý luận của Mikhail Bakhtin, phát triển vào nửa sau thế kỷ tại Tây Âu cùng với cấu trúc luận.
Khi đề cập tiểu thuyết thực nghiệm, một trong những dạng thức của điều tôi gọi là phá thể tiểu thuyết, tôi đã nói đến những tiểu thuyết được viết ra vào thời đại cực kỳ sung mãn vì kỹ thuật in đã đạt tới trình độ tinh xảo với khoa học thông tin-điện toán, tuy nhiên điểm cơ bản là sự xuất hiện một nền văn chương không đồng bộ, ở đó những bút pháp sáng tạo không theo quy luật, nguyên tắc, mô hình hay hệ tư tưởng nhất định. Cho nên những nhãn hiệu như thực nghiệm, hậu hiện đại, tân tiểu thuyết mới không mang một giá trị nhất định mà chỉ muốn nói đến một cái gì mới hơn những cái đã có, một vận động huỷ triệt trong sáng tạo. Tôi nhấn mạnh đến việc, như tất cả những cuộc đổi mới, tiểu thuyết phá thể huỷ tạo mọi quy ước về ngôn ngữ, quy phạm, tu từ, phong cách, tư duy, nhân vật, thế giới, khoa học v.v…
Trong quyển sách “Đường vào văn chương” vừa mới xuất bản, tiểu đề là phê bình lý trí văn chương. Tại sao lại gọi là “phê bình lý trí văn chương”? Khi đặt vấn đề phê bình lý trí, đã có nhiều tác giả trên thế giới, tuỳ vào quan điểm của mỗi người, trình bày lý trí dưới góc cạnh lý trí sử, lý trí biện chứng, lý trí thơ, lý trí phân tâm học, lý trí hiện tượng học, lý trí chính trị v.v…Đương nhiên phải kể Kant là nhà triết học đã mở ra con đường phê bình lý trí thuần tuý, nghĩa là đi tìm phương pháp mới của tư tưởng, ngõ hầu nhận ra những thành tố của lý trí thuần tuý. Mục đích của Kant là đi tìm khả năng tri thức của con người mang tính tổng hợp song lại có tính tiên nghiệm. Song tại sao lại gọi là “phê bình”, chính vì không phải chỉ đi tìm cơ sở cho một khoa học trong triết học, quen gọi là siêu hình học, vì đó là một khoa nghiên cứu đối tượng là cái gì vượt lên trên cái thường nghiệm thuộc về vật lý, mà còn định giới hạn khả năng của tri thức siêu nghiệm này. Phê bình lý trí văn chương cũng vậy, không phải chỉ tìm xem văn chương như thể một khoa học ở những mặt lập thành của nó, mà còn tìm hiểu thế nào là ý thức văn chương để xác định một khoa học văn chương, khả năng sáng tạo ra tác phẩm văn chương.
Trong “Triết học nào cho thế kỷ XXI”, tôi nói đến khả hữu của hữu thể luận. Khi hỏi về khởi đầu của triết học, lại phải trở về vấn nạn cơ bản: triết học là gì?, song quả thật “hỏi triết lý” có nghĩa là đưa ra một triết lý. Rốt cuộc trong những năm-cuối-thế kỷ [XX], thành tựu hay dị luận của nhiều công trình triết học chỉ đem lại suy niệm hay tưởng niệm về cáo chung của triết học: cáo chung cũng có nghĩa như kết cuộc/cứu cánh của triết học. Triết gia là người đem lại những khả hữu cho kinh nghiệm, song không phải chỉ có những khả hữu của kinh nghiệm mà có nhiều kinh nghiệm khả hữu. Có nhiều mái nhà trong tư tưởng của con người. Thế giới đa biệt ngày nay chứng tỏ: chúng ta không sống cùng dưới mái nhà, nhưng sống trong nhiều căn nhà, điều quan hệ là không phải những “ốc đảo cô lập”. Mọi căn nhà đều tọa lạc trên cùng một nền: trái đất. Trái đất chúng ta như một sinh giới,thế giới của đời sống, cho nhân loại sống thành cộng đồng và ở đó, con người có thể thoả hiệp trong một niềm thông cảm về mọi sự vật trên đời này.
Ở “Đường vào văn chương”, chương cuối cùng luận về “hữu thế luận văn chương”, như có thể nói đến hữu thể luận toán học của Alain Badiou, hữu thể luận xã hội của Marx v.v…Vấn đề hữu thể là tiên quyết trước mọi vấn đề tri thức, cho nên con đường văn chương tôi vẽ ra phải kinh qua những tri thức về lý luận văn học, thông diễn học, ngữ học, văn phong học, ký hiệu học, mỹ học , một công trình lao động đòi hỏi nơi mỗi người viết, người đọc không đơn giản.
2). Từ những năm 60 của thế kỷ XX cho đến thập niên đầu thế kỷ XXI, sự bùng phát của khoa học thực nghiệm đã kéo theo sự bùng phát của các lý thuyết khoa học. Những lý thuyết ấy, dường như có sự “tranh giành” lẫn nhau về mức độ ảnh hưởng của nó trong việc giải mã những vấn đề của khoa học nói chung và khoa học xã hội nói riêng, trong đó có văn chương. Tuy nhiên có một nghịch lý là, đáng ra, lý thuyết nhiều thì thực tiễn đánh giá văn chương – nghệ thuật cũng phải được nâng lên về giá trị theo tỉ lệ luận, song thực trạng phê bình văn học dường như đi ngược lại với thang bậc ảnh hướng ấy. Phê bình, giải mã đời sống thẩm mỹ của văn học nghệ thuật hiện đại dường như thiên về lý trí hơn là mô tả cảm xúc tiên nghiệm của chủ thể trước văn bản - tác phẩm. Ông đánh giá như thế nào về điều này?
ĐPQ:Khủng hoảng của phê bình văn học có thể đánh dấu qua những tranh biện về biên giới giữa hiện đại và hậu hiện đại, phê bình cũ và mới là một hiện tượng bình thường trong quá trình chuyển biến tri thức. Ngay trong nhưng cuộc bút chiến biểu hiện sự xung đột giữa phê bình cổ điển và phê bình mới, giữa phê bình nhà trường và phê bình phi hàn lâm, giữa phê bình khuôn mẫu điển hình và phê bình sáng tạo thường đi vào bế tắc nếu như không đi tìm bản chất của phê bình. Từ một trường hợp phê bình theo huỷ tạo một giai đoạn trở thành phong trào, tôi đưa ra nhận xét trong việc đặt vấn đề “cơ sở phê bình luận vị lai” là: khi đi tìm hiểu thuyết huỷ tạo là một trong những lý luận phê bình chủ đạo của nửa sau thế kỷ hai mươi, không thể không đặt mối quan hệ giữa văn chương và triết lý. Có phải những nhà phê bình văn chương thường bị triết học bức xúc phần nào vì bị từ khước những lạc thú văn chương (như vận động cảm tính của ngôn ngữ, những sự cố của hài kịch, thăng giảm của thuyết thoại [tự sự]) để nhường bước cho những trừu tượng của tư duy thuần tuý, những tiến triển của luận lý khô khan? Có phải trên quy mô rộng lớn của sự vật, thực tiễn văn chương chỉ tô điểm hương vị cho miếng thực phẩm vĩ đại là công trình triết lý? Trong viễn tượng đàn áp đó, lý luận huỷ tạo của Derrida đã xây dựng một cơ sở phong phú cho thực hành văn chương.
Mấy năm sau, nhân có người đưa ra một luận cứ rất giáo điều từ bàn chung quanh quyển sách “Phê phán phê bình luận văn học” của Tzvetan Todorov [nguyên tác tiếng Pháp là “Critique de la critique”] tôi nêu “mấy tiêu chí để tiếp cận lý luận văn học hiện đại”, trong đó nhận xét tại sao Todorov quan niệm văn chương khởi sinh từ một đối lập với ngôn ngữ thực dụng, văn chương là một diễn ngôn tự nó có thẩm quyền - từ cuộc cách mạng văn học của chủ nghĩa lãng mạn đến cuộc cách mạng của chủ nghĩa hình thái chỉ ra “dân chủ thay thế cho hệ thống đẳng cấp”, “phục tùng nhường chỗ cho bình đẳng”. Trong bài viết nói trên, tôi kết luận “vượt qua biên giới kiềm tỏa của chính trị và lạc hậu, những lý luận văn học [hiện đại] nhập cuộc với tiến bộ của khoa học xã hội hiện đại để nhập vào giòng đối thoại chung của con người, từ tiếng nói của con người trong hoàn cảnh đời sống hàng ngày đến những điều kiện thủ đắc của tác gia viết lên tác phẩm văn chương.         
3).Cuốn sách Đường vào văn chương: Phê bình lý trí văn chương của Giáo sư phải chăng là sự phê phán quá trình lý tính hóa tác phẩm văn chương đối với các lý thuyết phê bình “đình đám” trong thế kỷ vừa qua như Tự sự học, Giải cấu trúc, Tín hiệu học, Ký hiệu học….?
 ĐPQ:Dự án phê bình lý trí văn chương, như tôi nói ngay từ phần Dẫn nhập là “ở nửa sau thế kỷ XX, văn chương không chỉ giới hạn trong sáng tác, thưởng ngoạn thuần tuý trong lĩnh vực mỹ học, nhưng là những tranh luận về tính cách khoa học, khả hữu của một khoa học văn chương”. Khi tranh biện như thế, vấn đề không còn ở những giả vấn đề, như “vị nhân sinh” hay “vị nghệ thuật” song ở tính khoa học của nó, điều đó hàm ngụ nhận thức tự tại của văn chương, phương pháp luận, và những lý luận văn chương. Trong những tranh biện như thế, có can dự của nhiều khoa học khác nhau, từ triết học, sử học, văn học sử, ngữ học, ký hiệu học, ngữ nghĩa học, dân tộc học, xã hội học, tlý học, tâm bệnh học, mọi đóng góp đều có những giá trị nhất định, song đừng sa vào chủ nghĩa duy khoa học.
Có văn chương, là có ngôn ngữ, có văn tự, có sáng tạo, có thưởng ngoạn, có tác phẩm. Cho nên trong chương I của “Đường vào văn chương”, tôi đã đi từ khái niệm văn tự, đọc và viết tương quan với nhau như thế nào, đọc như một hành vi của viết và viết tương tự cũng mở ra như một hành vi của đọc; ngày nay nhiều nhà phê bình quan tâm đến vị thế của người đọc, nhưng thực ra có thể nói Nguyễn Du khi hỏi ba trăm năm sau, không biết có ai còn nhớ, còn khóc cho ông, là đã ý thức sự hiện hữu của người đọc quan trọng như thế nào rồi. Công việc đọc và viết có thể xem như lực lượng sản xuất ra bản văn.
4).Phê bình lý trí văn chương phải chăng là dự án phác thảo phê phán hệ hình tư tưởng phê bình văn học thế kỷ XX và thập niên đầu XXI, khi quá đề cao logic diễn giải hơn là tìm về bản chất của văn chương là siêu hình học? Ông đánh giá như thế nào về vai trò cảm thụ thẩm mỹ và mô tả hiện tượng học văn học trong khuynh hướng duy lý trí của lý thuyết phê bình văn học thế kỷ XX?
ĐPQ:Khẳng định hay phủ nhận khoa học văn chương, hay đặt vấn đề về tính khoa học hay tính văn chương, thực sự cũng là trở về với câu hỏi: phê bình lý trí văn chương có khả hữu?
Vấn đề của văn chương đặt ra những tranh luận liên quan đến thực và giả, chẳng hạn một tác phẩm văn chương là tiểu thuyết, cái gì thuộc về thực (sự kiện), cái gì là ảo giả (như ý niệm, nhân vật v.v…)?
Phạm vi của văn chương xác định giá trị của tác phẩm văn chương: nếu không có bảng thang giá trị mỹ học, không phân biệt được nghệ thuật hay, dở, ấu trĩ hay trưởng thành.Song tiêu chuẩn đó như thế nào? Có phụ thuộc vào thời gian? Vào cảm quan? Chẳng hạn, có những tiểu thuyết được đón nhận sôi nổi lúc mới xuất hiện song không được nói đến nữa theo thời gian, một nhà phê bình Đức gọi đó là một nhậy cảm văn chương, một nhà phê bình Pháp nói đến kinh nghiệm văn chương là một kinh nghiệm toàn diện.
Lấy một ví dụ khác, như quyển sách in ra trên giấy, với quyển sách ảo, Ebook, liệu quyển sách in có thể tồn tại, hay phải nhường bước cho Ebook? Hỏi như vậy, phải chăng lẫn lộn giữa phương tiện sản xuất văn hoá với phương thức sản xuất văn hoá?
5). Trong khi phê bình lý trí văn chương, chúng ta sẽ quay trở về với vấn đề nền tảng của nhận thức luận văn học là siêu hình học trong vai trò cá nhân tính (metaphysics of individuality – như cách nói của H. Gadamer ). Vậy có lý nào, chúng ta đang quay trở lại khám phá bản chất tiên nghiệm của chủ thể sáng tạo văn học và chủ thể phê bình văn học? Và phải chăng, một lần nữa chúng ta cần thiết phải trở về với mái nhà xưa của Hiện tượng học trong nhận thức luận văn học?
ĐPQ:Tôi nghĩ đến hiện tượng học như một đóng góp lớn lao trong lĩnh vực phê bình lý trí hiện đại trong “Đường vào văn chương”. Tôi đã đề cập trong sách, cuộc tranh biện giữa người học trò của Husserl là Roman Ingarden, người Ba lan với Käte Hamburger, đến học thuyết mỹ học văn chương của nhà hiện tượng luận Mikel Dufrenne người Pháp, đến lý luận về tầng bên trong những đối tượng mỹ học của Nicolai Hartmann và sự khác biệt với lý luận của Ingarden chỉ ra phân chia hữu thể luận giữa giá trị nghệ thuật của tác phẩm với giá trị mỹ học của đối tượng liên hệ tới tri giác, hay giá trị mỹ học của tác phẩm chỉ đắc thủ với người nào tri giác giá trị nghệ thuật trong biểu hiện mỹ học, phương cách nào có khả năng hơn? Điều đó chỉ đề ra chọn lựa, khi chúng ta nói về hữu thể luận văn chương.
6). Tôi đặc biệt quan tâm đến phần cuối của Đường vào văn chương: Phê bình lý trí văn chương, khi GS đi tìm hiểu bản chất mối quan hệ giữa mỹ học và văn chương, trong đó có đoạn: “Mỹ học và văn chương là hai khoa học phân biệt song có một điểm chung đó là thuộc về cảm tính”, phải chăng, phê bình lí trí văn chương, xét đến cùng là để trở về với điểm chung “cảm tính” này? Phê bình lý trí văn chương, theo GS phải chăng là “sự khiêu khích” với chủ nghĩa duy vật luận trong văn học, “khiêu khích” với Chủ nghĩa hiện đại (Chủ nghĩa duy lý) để trở về với siêu hình học truyền thống và trực giác luận?
ĐPQ: Mối quan hệ giữa mỹ học và văn chương thực sự chỉ đặt ra trong chương II của Phê bình lý trí văn chương, và tới chương XI của tập Hai sẽ xuất bản mới luận về mỹ học văn chương, cho nên tôi có nhắc nhở là từ trước đến nay, nhiều nhà nghiên cứu thảo luận về mỹ học không phân liệt rõ đâu là ranh giới của mỹ học nói chung và mỹ học văn chương nói riêng, cho nên trong việc đi tìm cơ sở phê bình lý trí văn chương ở đây, xác định khu biệt giữa hai phạm vi để tới cuối đường khai phá, có thể hình thành một hữu thể luận văn chương. Tôi có dẫn ra một ví dụ của một nhà triết học phân tích, Urmson để cho thấy cái đẹp của một quyển tiểu thuyết [như Chiến tranh và Hoà bình của L. Tolstoi] với cái hay không hẳn đồng nhất, cái hay của tiểu thuyết ở đây thuộc về đạo lý, tư tưởng song chưa hẳn được coi là đẹp về mặt mỹ học. Tôi có thể gợi ý ở đây, như Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu là một ví dụ khác về hay và đẹp, chẳng hạn.
7).Cuối cùng, điều làm tôi quan tâm và cũng là đóng góp lớn nhất của Phê bình lí trí văn chương là: phải chăng cuốn sách đã hé mở cho chúng ta một đường hướng phê phán lý trí mỹ học trong thường thức nghệ thuật? Vâng, tôi thực sự quan tâm đến khả năng này, trong việc phác thảo một bản phổ hệ về phê phán lí trí mỹ học. Theo Giáo sư, mong muốn ấy liệu có thể trở thành hiện thực không, khi mà mỹ cảm dần bị thay thế bằng phân tích lý tính thẩm mỹ trong quá trình tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật ở một giai đoạn được đánh giá là khủng hoảng tri thức này?
ĐPQ:Trong bài viết về “mấy tiêu chí để tiếp cận lý luận văn học hiện đại” nhắc đến ở trên, tôi có nêu ra tính tự trị của chức năng nghệ thuật, không phải tính thoát ly của nghệ thuật, nguyên lý đối thoại có tầm nhìn lịch sử, đáp ứng từ lý luận cổ đại đến hiện đại, nên nghiên cứu văn chương muốn trở thành khoa học, phải để ý đến chiều thứ ba thay vì chỉ nhìn mọi sự trên một mặt phẳng. Cho nên như thông diễn học thường được nói nhiều đến ngày nay, vì nó phục hồi tính chủ thể, song điều đó không có nghĩa là phủ nhận tính liên chủ thể, ở thời đại kỹ thuật khoa học này, còn nói đến liên bản, thay vì chỉ có đơn bản. Cho nên sự khủng hoảng của tri thức cũng là cảnh báo về sự trấn áp giáo điều. Có thể người đọc cũng nhận thấy, đưa ra một đường hướng phê bình lý trí văn chương cũng có nghĩa là đang bảo vệ sự tồn tại của văn chương, trả lời cho câu hỏi: tại sao lại phải quan trọng/có vấn đề văn chương [what literature matters?]  
Xin chân thành cám ơn ông!


Thiếu tài, tâm, tầm, chỉ có tác phẩm trung bình!

Ngô Hương Giang thực hiện



Lời tòa soạn: Sau Hội thảo Phấn đấu sáng tạo những tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao do Hội đồng Lý luận, phê bình văn học nghệ thuật Trung ương tổ chức vào cuối tháng 11 năm 2013 tại thành phố Hồ Chí Minh, rất nhiều ý kiến tiếp tục trao đổi xung quanh vấn đề này đã được đăng tải trên các báo, tạp chí, thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu lý luận và các nghệ sĩ sáng tạo văn học nghệ thuật.
     Tòa soạn báo Hà Nội mới xin trân trọng giới thiệu một phần nội dung cuộc trò chuyện xung quanh vấn đề này giữa Thạc sĩ Ngô Hương Giang – một nhà nghiên cứu trẻ đang công tác tại Viện Triết học – Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam với PGS.TS. Phan Trọng Thưởng – Nguyên Viện trưởng Viện Văn học, hiện là Phó chủ tịch Hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung Ương, ủy viên Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam khóa VIII, kiêm Giám đốc Trung tâm bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du của Hội nhà văn Việt Nam. Sau đây là nội dung cuộc trò chuyện.

***
PGS. TS. Phan Trọng Thưởng

    Thưa ông, Được biết mới đây ông vừa cho ra mắt cuốn Thẩm định các giá trị văn học được giới nghiên cứu và bạn đọc chú ý. Tôi cũng đã đọc tác phẩm của ông với rất nhiều hào hứng và thấy rằng ngoài các vấn đề khá cơ bản của lý luận và Lịch sử văn học, ông còn dành sự quan tâm tới việc thẩm định các giá trị văn học. Đề thẩm định đúng và trúng các hiện tượng văn học, theo ông cần dựa trên những tiêu chí nào? Yêu cầu nào?

   + Để trả lời câu hỏi của anh thật không đơn giản. Kinh nghiệm cho thấy, các hiện tượng văn học có nhu cầu thẩm định thường khá phức tạp. Để thẩm định đúng, trước hết người thẩm định phải có năng lực thẩm định thể hiện qua hiểu biết về đối tượng; qua trình độ nhận thức thẩm mĩ; qua năng khiếu và tư chất cá nhân; qua hệ thống giá trị chuẩn mực nghệ thuật và qua các góc độ, cách thức tiếp cận.... Đồng thời, để thẩm định đúng, người thẩm định cần thoát ly các định kiến; có thái độ khách quan lịch sử; có khả năng phát hiện cái mới, phê phán cái cũ; có ý thức trân trọng và bảo vệ các giá trị... Toàn bộ các yêu cầu đó làm nên tư cách của người thẩm định.
   
Hình như vấn đề ông đang nói có liên quan đến vấn đề đánh giá thế nào là tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao? được đặt ra trong Hội thảo khoa học Phấn đấu sáng tạo những tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao do Hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung Ương tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh tháng 11 năm ngoái? Tôi nhớ trong tham luận của ông, khi cắt nghĩa về giá trị của một tác phẩm văn học nghệ thuật ông đã đúc kết là: “Chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc; chủ nghĩa nhân văn; khát vọng hướng tới cái Đẹp, cái Thiện, cái Chân thật, cái cao cả; là các giá trị lao động sáng tạo, giá trị văn hóa lịch sử hình thành trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc”. Phải chăng đó là toàn bộ hệ giá trị chuẩn mực của văn học nghệ thuật?

+ Đó không chỉ là hệ giá trị chuẩn mực riêng của văn học nghệ thuật mà còn là hệ giá trị Đạo đức – Tinh thần – Thẩm mĩ chung của dân tộc mà văn học nghệ thuật với tư cách là các hình thái ý thức xã hội đặc thù cần phải phản ánh. Tuy nhiên, do mang tính đặc thù nên ngoài các giá trị phổ quát, giá trị chung, văn học nghệ thuật còn mang các giá trị đặc biệt, giá trị đặc trưng làm nên bản chất của mỗi loại hình nghệ thuật. Đó là các giá trị được tạo nên bởi hình tượng, ngôn ngữ, âm thanh, ánh sáng, màu sắc.v.v... được tổ chức, phối hợp theo các quy luật nghệ thuật và thẩm mĩ khác nhau. Như vậy, hệ giá trị chuẩn mực của văn học nghệ thuật không phải là một giá trị tự thân, đơn nhất hay nhất thời nào mà là một tổ hợp các giá trị được xã hội thừa nhận.

    Cũng trong tham luận trên, ông từng đưa ra ba tiêu chí để đánh giá một tác phẩm có giá trị cao: Thứ nhất, đó phải là tác phẩm hay; thứ hai, đó phải là tác phẩm có phẩm chất nghệ thuật chân chính; và thứ ba, đó phải là tác phẩm chứa đựng những tư tưởng tiến bộ,... hướng đến lợi ích chính đáng của nghệ thuật, của tổ quốc và nhân dân. Với tư cách là nhà nghiên cứu văn học tham gia vào Hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương, xin ông cho biết Hội đồng có những định hướng về mặt lý luận như thế nào để xây dựng một nền văn học có nhiều tác phảm có giá trị cao như ông đã đề cập?

   + Để thực hiện chức năng chủ yếu là tư vấn cho Đảng và Nhà nước về những vấn đề của văn học nghệ thuật, trong quá trình hoạt động, Hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương đã và đang tiến hành nhiều việc trong đó có việc nghiên cứu thực tiễn và xây dựng định hướng phát triển lý luận văn nghệ ở Việt Nam. Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng sẽ được triển khai thực hiện từ nay tới hết năm 2015. Hy vọng đây sẽ là căn cứ để xây dựng và hoàn thiện bộ tiêu chí đánh giá văn học, góp phần thúc đẩy sự phát triển của lý luận, phê bình văn học, từ đó tác động tới sáng tác. Còn việc làm thế nào để có nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao lại không tùy thuộc vào ý muốn của Hội đồng mà tùy thuộc vào nỗ lực và quyết tâm chung của cả giới văn học nghệ thuật. Với Hội thảo khoa học vừa rồi, Hội đồng chỉ thực hiện vai trò tổ chức, vai trò tổng kết đánh giá thực tiễn để nhìn nhận thực trạng, lý giải nguyên nhân và bước đầu đề xuất các giải pháp với tham vọng để có thêm nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao. Tại Hội thảo này, câu trả lời cho vấn đề, trong đó có cả câu trả lời của tôi, hướng về phía các nhà văn và nhà nghệ sĩ.

Tôi đồng ý với quan điểm của Giáo sư rằng: “Đối với văn học nghệ thuật, Đảng và Nhà nước ta hiện nay còn phải dành cho sự quan tâm nhiều hơn và còn nhiều việc phải làm. Nhưng với những gì đã có, giới văn nghệ sĩ Việt Nam hiện tại không những không bị rơi vào tình trạng bị bóp nghẹt, bị cấm đoán, mà trái lại còn khá tự do do chưa hoàn thiện được hệ thống luật pháp quyền, chưa ý thức được thế nào là tự do và dân chủ thực sự”. Với quan điểm của Giáo sư phải chăng sự thiếu vắng các tác phẩm văn học nghệ thuật đỉnh cao ở ta hiện nay không nằm ở các chính sách của Đảng và Nhà nước… mà nằm ở chỗ nền văn học của chúng ta đang thiếu những cá nhân sáng tạo có Tâm, có Tầm và có Tài?

+ Tôi cho là như vậy. Cứ nhìn vào thực tế sẽ thấy. Từ đổi mới đến nay, văn học nghệ thuật được tự do hơn rất nhiều. Có ai hạn chế, cấm đoán thô bạo gì mấy đâu. Thậm chí còn tự do hơi quá trớn là đằng khác! Thế mà tại sao vẫn ít tác phẩm đỉnh cao: Tôi vẫn giữ quan điểm cho rằng: Không có nhà văn thì không có tác phẩm. Nhưng nhà văn không có Tài, có Tâm, có Tầm thì giỏi lắm cũng chỉ là tác giả của những tác phẩm trung bình. Vai trò đầu tư, kích thích đối với những nhà văn lớn, nhà văn có tài thực sự ít ý nghĩa. Họ sáng tác có khi chỉ vì một nỗi đau, một nỗi bất hạnh lớn chứ không phải là một ân huệ lớn, một hạnh phúc lớn.

Nói chúng ta thiếu không có nghĩa là chúng ta không có những nhà văn có Tài, Tâm, Tầm. Vấn đề là những cá nhân ấy vẫn “lang thang” ở đâu đó trong văn học Việt Nam. Vậy theo Giáo sư, Đảng và Nhà nước cần có biện pháp gì để “quy tụ” những người có Tài, Tâm, Tầm? Có nhất thiết phải đi tìm các tác phẩm giá trị và những nhà văn lớn từ trong các cuộc thi sáng tác văn học nghệ thuật hay không?

+Tôi nhớ anh Hoàng Ngọc Hiến đã có lần nói đến tình trạng “lang thang” trên đất nước mình, nhưng trong một văn cảnh khác. Còn trong văn cảnh này, liệu có những người có Tài, Tâm, Tầm đang “lang thang” ở đâu đó trong không gian văn học Việt Nam hay không lại là chuyện cần đoán định. Nếu có thì cũng phải biết rõ lý do mới có cơ để quy tụ được, kể cả Đảng và Nhà nước có muốn quan tâm. Như vậy, thực chất vấn đề vẫn trở lại với ba chữ Tài, Tâm, Tầm đã nói ở trên mà thôi.
Còn việc tìm tác phẩm lớn, nhà văn lớn ở đâu? Ở các cuộc thi hay ở các Hội?... theo tôi đều không trúng địa chỉ cả. Chưa bao giờ các cuộc thi lại đẻ được ra nhà văn lớn!

Ông từng nhấn mạnh rằng “một nhà văn thực sự là nhà văn lớn bao giờ cũng đồng thời là nhà tư tưởng lớn, nhà văn hóa lớn”. Điều đó đúng về mặt lý thuyết và tôi đồng ý với Giáo sư. Nhưng sẽ có một trở ngại lớn khi nhìn vào thực tiễn văn học Việt Nam hiện thời. Không biết bao giờ mới có được những nhà văn hội đủ cả 3 nhà như vậy? Ông nghĩ sao về điều này?

+Cứ nhìn vào lịch sử văn học thế giới và Việt Nam sẽ thấy rõ điều đó. Ngay từ thời cổ đại đã như vậy rồi. Đến thời kỳ Phục hưng hay thời kỳ Ánh sáng lại càng như vậy!
 Ở Việt Nam, từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cao Bá Quát, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh… đều cho thấy sự thống nhất của ba phẩm chất trong một con người: Nhà văn lớn – nhà tư tưởng lớn – nhà văn hóa lớn.
 Đành rằng trên thực tế, ít có người cùng lúc ở cả 3 lĩnh vực. Nhưng, về phẩm chất, một nhà văn lớn phải có tầm tư tưởng lớn, có tầm văn hóa lớn. Giá trị văn chương đích thực bao giờ cũng đồng thời là giá trị văn hóa, giá trị tư tưởng.

Xin chân thành cảm ơn ông!


Chủ Nhật, 6 tháng 4, 2014

VỀ BỘ SÁCH LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY CỦA ĐỖ MINH HỢP


Ngô Hương Giang

Bộ sách Lịch sử triết học phương Tây của GS. Đỗ Minh Hợp

Trong tinh thần mộ triết học của tôi, cũng như đã từ rất lâu, tôi luôn xem Triết học là nghiệp của mình, nên việc tìm kiếm và nghiên cứu kỹ các bộ sách Lịch sử triết học là thói quen cố hữu không bỏ được mỗi khi vào hiệu sách. Lịch sử triết học không chỉ là sự khái quát các chặng đường phiêu lưu của tư tưởng nhân loại, hay thói quen thích triết lý của con người để biết mình là ai, và nhân loại là những ai?, mà còn phản ánh con đường khoa học của “một đời” nghiên cứu.

Cái làm tôi khâm phục một ai đó trong nghề “cày chữ”, cũng như “canh tác tư tưởng” ở lĩnh vực nghiên cứu/ sáng tạo triết học, đó là, họ hoặc đời nghiên cứu của họ phải trả lời cho được câu hỏi mang tính chủ quan, cá biệt: Triết học là gì? Và triết học sẽ đi đến đâu/về đâu? Chính cái quan niệm có phần “bảo thủ” đó của tôi, mà nó khiến tôi không ít lần dính vào lụy phiền bởi những đợt khẩu chiến khoa học trực diện. Hễ cứ ai đó tham gia tọa đàm khoa học triết học ở cơ quan hoặc ở nơi nào đó mà tôi có dịp tham dự là y rằng, họ hoặc tôi sẽ phải đối mặt với 2 câu hỏi tưởng đơn giản nhưng phức tạp ấy. Và y rằng, các học giả khi trả lời 2 câu hỏi trên, ban đầu họ có vẻ rất “hào hứng”, nhưng khi cất lời thì lại đi vào ngõ mòn sáo rỗng đến nhàm chán là “triết tự” cái từ “Philosophia”, là phương Tây quan niệm thế này, phương Đông quan niệm thế kia…. Cái tôi muốn là “theo bà”, “theo ông”: “philosophia có nghĩa là  gì?” chứ không phải là theo Đông, theo Tây, theo ông này, bà nọ…Thế là lại khẩu chiến khoa học. Người làm nghiên cứu triết học suốt đời theo đuổi lý tưởng và cô đơn với lý tưởng của mình là vì vậy.

        Quay lại với chủ đề chính là sự ra mắt của bộ sách Lịch sử triết học phương Tây của Giáo sư Đỗ Minh Hợp. Dự án cho ra đời bộ Lịch sử triết học phương Tây, ông đã “khoe” với tôi từ rất lâu, nhưng quả thực mình không nghĩ rằng, ông làm thực và ra được sách thực. Vì làm lịch sử triết học cũng giống như “làm dâu trăm họ vậy”, lang chạ đủ thứ tư tưởng trong người, rồi phải hệ thống hóa nó theo các chủ đề hoàn chỉnh. Trong tủ sách tạp nham đủ loại sách của tôi, thì có một tủ chỉ để trưng các bộ sách lịch sử triết học mà tôi đã lượm, mua được từ tứ xứ thiên ạ, Tây có, Đông có, ngoại ngữ có, mà Việt ngữ cũng có. Nhưng ở đây, tôi chỉ xét các bộ sách Việt ngữ. Trong các sách lịch sử triết học phương Tây (chứ không phải phương Đông) mà tôi có, tôi thấy hai bộ sách mà độc giả nên đọc là bộ sách của Giáo sư Lê Tôn Nghiêm (xuất bản ở miền nam trước 1975) và bộ sách của giáo sư Đỗ Minh Hợp. Hẳn có thể do khó tính, nên tôi không thích cách viết từ các bộ sách lịch sử triết học dịch từ Liên Xô, cũng như các cuốn sách mà giáo trình chẳng ra giáo trình, sách chuyên khảo chẳng ra chuyên khảo, biên khảo cũng không phải, mà chỉ là thứ "thơ" được vẽ vời cốt hoàn thành nhiệm vụ.

Bộ sách Lịch sử triết học phương Tây của GS. Lê Tôn Nghiêm và GS. Đỗ Minh Hợp

Cách làm lịch sử triết học của Giáo sư hợp và Giáo sư Nghiêm có điểm giống cách biên khảo lịch sử triết học phương Tây của B.Russell, Alfred North Whitehead, E. Bréhier, hay Bochenski là bên cạnh các chủ đề triết học có tính kế thừa nhau, các ông còn mạnh dạn đặt “ông tổ” hoặc các triết gia quan trọng của trào lưu triết học ấy thành một mục riêng, chẳng hạn đặt triết học Kant, Hegel, Husserl, thành một mục... Việc làm này không chỉ là công việc của một chuyên gia, mà còn phản ánh thao tác tư duy khoa học có hệ thống của người viết. Đặt các triết gia quan trọng thành một mục, cốt nhằm chỉ ra sự biến đổi, phân cành rẽ nhánh của các dòng triết học có gốc rễ từ lý thuyết của mấy ông triết gia vĩ đại ấy, xem nó phát triển đến đâu. Ví dụ triết học Marx ở Việt Nam chỉ dừng lại theo tính cách mô phạm, sáo mòn kiểu như các phạm trù, quy luật, các vấn đề cơ bản của triết học, rồi thuyết khả tri, bất khả tri, phản ánh luận…trong khi đó, triết học Marx phương Tây (Western Marxism) hay còn gọi là triết học tân- Mác phát triển đến chóng mặt với lý thuyết phê phán hoặc sự lai ghép của nó với phân tâm học…như Horkheimer, Adorno, Marcuse, Habermas, Fromm đã làm công việc chú giải lại chủ nghĩa Marx. Vậy thì tại sao "diện mạo Triết học" Ở Việt Nam không chịu phóng thể tìm đến ý niệm mới của tư tưởng? "Cái cơ thể" của một đất nước là kinh tế, chính trị, xã hội có phát triển, có vượt thoát và khai phóng hay không, thì cái tinh thần chi phối nó phải được khai phóng và tiến bộ trước, mà cái tinh thần của một quốc gia muốn có được thì phải có bệ phóng triết học đủ vững để những ý niệm sống của quốc gia, dân tộc theo đó mà vượt thoát .

Đọc hai bộ sách của giáo sư Hợp và giáo sư Nghiêm, người đọc sẽ có cảm giác mình được bơi ra khỏi khúc sông mà bao năm đã bơi, để biết rằng, ngoài khúc sông của mình còn có nhiều khúc sống khác đang chảy. Sự dũng cảm của một người, theo tôi không phải là chạy trốn cái cổ hủ, cái lạc hậu để làm cho mình tiến bộ khi ở cõi sống văn minh, mà là làm cách nào đó để biến cái khúc sông “tù đọng” bao năm mình bơi ấy trở thành trong lành, và văn minh như mình từng thấy ở khúc sông khác, chứ không phải là xóa bỏ hoặc phủ nhận sự hiện diện của nó.

Bộ sách Lịch sử triết học phương Tây của Giáo sư Đỗ Minh Hợp phần nào đã giải quyết được công việc ấy. 

Thứ Tư, 2 tháng 4, 2014

NHẬN ĐỊNH HIỆN TƯỢNG LUẬN VỀ SỰ ĐỌC


Ngô Hương Giang

Ảnh minh họa

    Nếu nhà văn, với tài năng của mình có thể nhào nặn nên hình hài văn bản tự nhiên và đầy quyến rũ, pha chút thanh tao của đời sống tinh thần, thì dường như đứa con mà anh ta "muốn đưa vào đời ấy" trước hiện thực vẫn cần những bàn tay xa lạ dìu dắt để bước tiếp hành trình đi tìm ý vị của đời sống. Sáng tạo là công việc mệt nhọc. Nhưng việc tiếp nhận cũng không kém phần mệt nhọc. Nhà văn có thể tưởng tượng, vượt thoát mọi giới hạn không gian và thời gian, xử lý chất liệu từ hiện thực để sáng tạo trên mặt giấy. Tuy nhiên, dù văn bản mà nhà văn ấy viết ra có trác tuyệt đến đâu nhưng khi nhà văn "mang" nó ra cuộc đời, ra giữa "chợ" người xa lạ, rồi những con người xa lạ ấy đi qua nó với gương mặt lãnh đạm thờ ơ, vô cảm, nhìn nó với ánh mắt buồn ngủ và trơ tráo thì tác giả của tác phẩm đó cũng trở thành kẻ bơ vơ giữa chốn chợ đời.
    "Đứa trẻ của sáng tạo ấy" khi sinh ra dù sẵn mang trong mình cái vẻ "tự nhiên sẵn có" nhưng nó lớn lên trong cái nhìn đơn điệu của những vị khách quen thuộc, hàng ngày áp đặt lên thân thể ngọc ngà của nó những bộ xiêm y lỗi mốt, những thói quen đạo đức cứng nhắc, giả tạo, ít có cơ hội được mở mình ra bên ngoài, ướm thử những trang phục đa sắc màu thì vẻ đẹp ấy sớm muộn cũng phai nhạt theo thời gian. Tôi thì quan niệm, khi văn bản đã hoàn tất thì người viết đã hoàn thành vai trò sinh hạ đứa con tinh thần, để bắt đầu một giai đoạn mới: đứng từ xa dõi theo đứa con của mình lớn lên với thời gian. Còn quá trình "lớn lên" ấy của đứa con tinh thần đó êm đềm hay sóng gió, có tỏa sáng hay lụi tàn, cách mạng hay tha hóa thì dường như người viết sáng tạo ra nó cũng chỉ "một mình mình biết một mình mình hay". Nhưng sóng gió hay êm đềm, cách mạng hay tha hóa mà đứa con tinh thần của người viết phải mang không phải do người viết quyết định. Chính cái xã hội với những con người xa lạ mới hoàn tất hành trình đi đến cùng những lớp nghĩa cũng như giá trị tác phẩm. Văn bản của người viết cũng giống một đứa trẻ, theo những cấp độ khác nhau của kinh nghiệm sống sẽ khoác trong mình những gam màu khác nhau của "ý nghĩa giáo dục" do những con người xa lạ nhào nặn mà nên. Và rồi, từ xa lạ thành gần gũi. Từ việc đọc văn bản theo hướng tiếp cận của lý thuyết này, nó được chuyển lưu qua cách nhìn của lý thuyết khác.
Cứ thế, mỗi lý thuyết ban đầu đến với nó trong cảm thức xa lạ. Người xa lạ đến với nó bằng con mắt tò mò, pha chút hiếu kỳ của những đám đông đã quen với cái nhìn của ngày hôm qua, cái nhìn thành rãnh của truyền thống, giống như việc con người đã quá quen với bộ xiêm y cựu truyền (tradition) giờ được những vị khách chưa một lần gặp trao tặng bộ veston hào nhoáng, đủ kiểu cách. Văn bản của người viết qua mỗi lần được đọc cũng giống như lớp xiêm y cũ được "thay đổi" bằng những sắc màu tươi mới do những con người xa lạ cấp cho nó. Nó bị đám đông truyền thống ghẻ lạnh và xa cách trong thời đoạn mà nó được người đọc tiến bộ khoác lớp ý nghĩa mới với khoảnh khắc lóe sáng nơi con tim đa cảm, của kinh nghiệm tri thức vượt thoát mọi ý nghĩ thông thường. Vì vậy, người đọc tiến bộ bao giờ cũng là kẻ sống trong xa lạ và quạnh hiu với ý thức hệ truyền thống, với nếp nghĩ cũ mòn.
    Trong tình huống ấy, văn bản của người viết không phải là chủ thể của sự phê phán hay phân tích, mà chính quan điểm tiến bộ, cách mạng mà người đọc cấp cho nó sẽ trở thành sự phê phán về tư tưởng. Thậm chí, sự cấp nghĩa ấy một khi đã trở thành vấn đề có tính thời đại, thì ngay lập tức, nó được nâng lên thành mâu thuẫn có tính ý thức hệ. Cuộc đấu tranh ý thức hệ trong văn học - nghệ thuật khởi ra từ sự mâu thuẫn về tư tưởng này, từ sự mâu thuẫn đối với quan niệm thẩm mỹ cũng như cách nhìn tiến bộ pha chút xa lạ và phản kháng. Người đọc bao giờ cũng tiến xa hơn nhà văn bởi bằng tri thức và kinh nghiệm thẩm mỹ đa dạng, họ góp phần phá vỡ sự độc đoán trong cách nhìn, cách đánh giá về hiện thực.
    Nếu như văn bản trong quan hệ với hiện thực chỉ là một khía cạnh của cách nhìn, cách đánh giá hiện thực thẩm mỹ, thì ngược lại, trong quan hệ với người đọc lại là sự quy chiếu, tác động của vô số kinh nghiệm tri thức và phương pháp luận nhận thức. Văn bản của người viết bảo lưu và che giấu ý nghĩ đơn độc của người nghệ sĩ, kéo quan điểm của người viết vào sự bảo thủ của ý thức hệ thẩm mỹ. Người viết cất lên tiếng nói để lưu giữ quan điểm, quan niệm của mình về thế giới mà y xây dựng trong tác phẩm, thế nhưng ý thức xây dựng văn bản văn nghệ ấy thường là ý thức bị giới hạn. Do đó, nó luôn thiếu vắng những sắc màu đa diện, phong phú từ cuộc sống. Và người đọc chính là những sắc màu đa diện, muôn mặt của cuộc đời, ùa tới văn bản như những lớp sóng muôn tầng chồng lớp lên nhau, tạo nên những lớp nghĩa trải dài bất tận. Những người đọc ấy, họ đến từ muôn nơi, được sống và có những tri thức từ nhiều nền văn hóa, trải qua nhiều phê phán về ý thức hệ thẩm mỹ, được tiếp cận với nhiều nền văn minh trên thế giới, vì vậy, cách nhìn của họ về văn bản của người viết bao giờ cũng tiến bộ và đầy đủ. Văn bản văn nghệ, theo đó, được và cần được đánh giá từ nhiều hướng tiếp cận khác nhau.
    Trong quan hệ gia đình, đứa trẻ trong con mắt của phụ huynh bao giờ cũng chịu quy định theo những phép tắc, lề lối ăn sâu, cắm rễ trong đạo đức ý thức hệ. Trong quan hệ tác giả - văn bản, người viết luôn muốn áp đặt văn bản của mình theo các quy tắc do anh ta dựng nên trong cuộc đời, lái tác phẩm của mình theo những hướng tiếp cận thẩm mỹ mà y mường tượng ra về hình ảnh người đọc sẽ đến với văn bản ấy. Nhưng thật khó để có sự hiện hữu của một người đọc đúng như anh ta hình dung, bởi người đọc trong tưởng tượng ấy là người đọc xa lạ và phi thực, nó chẳng khác nào việc người ta đang trông đợi một siêu nhân, hay bóng dáng của đấng sáng thế đến cứu rỗi cho thế giới mà y sáng tạo. Do đó, dưới con mắt chủ quan của người viết, thì văn bản của họ bao giờ cũng thánh thiện và đẹp, quan trọng hơn là, họ luôn gieo rắc trong đầu ý nghĩ về sự kiểm soát độc đoán với đứa con tinh thần do mình tạo ra. Và cái ý thức "con dại cái mang" trong mối quan hệ với văn bản của người viết chỉ là "chiếc bình phong" che chắn ý định kiểm soát đối với nghệ phẩm khi nó hòa nhập vào xã hội. Ý định thẩm mỹ, mà nói đúng ra, cái quyền lực tri thức nhân danh chủ thể sáng tạo đã lấn án, che mờ tinh thần khách quan trước văn bản của họ.
    Người viết, ngoài những tuyên ngôn về một sự khai mở ý nghĩa do những con người xa lạ bên ngoài xã hội ùa đến và nâng đỡ giấc mộng cho văn bản thì thực chất, họ vẫn muốn đứa con ấy phải mang ý nghĩa của mình và do mình tạo nên. Vì vậy, cái ý nghĩ trông chờ về một người đọc đọc đúng ý nghĩa của mình, do mình "sáng chế" trên văn bản vẫn luôn là ý nghĩ mở, chẳng thể có hồi khép lại. Sự chờ đợi ấy sẽ kéo theo sự vô vọng, thậm chí là thất vọng của người viết. Nguyễn Du sinh thời cũng đã từng vô vọng, thất vọng trong hành trình tìm kiếm ý nghĩa đích thực ở phía những cá thể xa lạ bên ngoài. Để đến hôm nay, cái người đọc lý tưởng, đấng cứu rỗi ấy vẫn mịt mờ theo thời gian và không gian, chưa một lần xuất hiện cho trọn nghĩa mà ông mong đợi. Cái vô vọng của Nguyễn Du hướng về, chờ đợi bóng giai nhân hay một đấng quân tử vẫn bặt tin tức nơi nào. Có lẽ vì, Nguyễn Du đã quá lý tưởng về ý nghĩa trong nghệ phẩm của mình, đã khép kín ý nghĩa của văn bản vào sự độc tôn ý thức cá biệt. Ông đã không tự giải phóng mình, bằng việc ném ra khỏi thế giới tinh thần của mình cái ý nghĩ trông chờ sự đồng cảm từ phía những con người xa lạ kia một cách bình dị, mà tự mình ôm nỗi đau nhân tình thế thái "một mình mình biết một mình mình hay", dẫn đến một mình mình đau và một mình mình chịu sự ấm ức này. Do đó, cuộc hành trình đi tìm ý nghĩa đích thực của sự đọc nơi nhà văn là hành trình tìm kiếm vô vọng trong một thế giới vốn đã đầy tràn về tri thức và cũng là sự vô vọng trong một thế giới thiếu đi ý thức hướng về kinh nghiệm hư vô (Néant), khởi phát cho sự tư duy lại.
Cũng thật dễ hiểu, một đứa con trưởng thành không chỉ chịu tác động ràng buộc từ phía huyết thống gia đình, mà còn chịu tác động ở sự ràng buộc của các mối quan hệ xã hội. Văn bản của người viết cũng vậy, nó mang trong nó phẩm tính của việc giáo dục ý nghĩa cuộc sống do người hạ sinh ra nó nuôi dưỡng ấp ủ, nhưng sự lớn mạnh của nó, khẳng định chỗ đứng của nó trong cuộc đời thì lại nằm ở mối quan hệ liên chiều từ phía những cá nhân bên ngoài, hướng đến và sáng tạo nên nó. Sóng gió cuộc đời đã tôi luyện sự vững vàng của cá thể con người, nó có được sức mạnh để chống trả lại những ánh mắt dò xét của nhóm đám đông vô thức bên ngoài, có ý định muốn đồng hóa về ý thức thẩm mỹ và văn hóa.
    Thế nhưng, bản lĩnh ấy không phải cá thể nào cũng mang sẵn trong mình, nó còn phải là quá trình nỗ lực tự thân. Nói như vậy có nghĩa, tác phẩm văn nghệ của người nghệ sĩ muốn đứng vững trong xã hội đầy sóng gió của ý thức hệ thẩm mỹ, thì nó phải được chủ thể sáng tạo gieo sẵn một bản lĩnh, một vốn sống. Thật vô nghĩa, khi một nghệ phẩm thiếu hụt giá trị thẩm mỹ và bản lĩnh xã hội, mà vẫn muốn đương đầu và mong dành vinh quang trong thế giới người đọc vốn phong phú, đa dạng về tri thức như ngày nay và người đọc với những chức năng và quyền hạn tri thức không giới hạn chỉ có thể lưu giữ và làm giàu những giá trị từ các tác phẩm đích thực - những tác phẩm chạm tới bề sâu nhất của con người, khiến con người phải rùng mình sợ hãi và ám ảnh sau khi đọc nó, đồng thời, có cảm giác thôi thúc tự bên trong, bứt dứt tự tâm thể sau khi đọc - lại - nó.
Tác phẩm văn nghệ từ khi rời xa chủ thể sáng tạo phải nhận lãnh cho mình một số phận riêng biệt trong cuộc đời, chấp nhận trở thành một thân phận của tinh thần. Nó bước đi trong thế giới kinh nghiệm của người đọc và chịu những tác động thăng trầm, nhiều xáo trộn như một hiện hữu tại thế. Nó sẽ là những nghi án nhiều oan ức, nếu như nó bị số đông người đọc nhìn nhận ở góc độ thiên kiến chính trị, quy ý tứ về chiều sâu ý nghĩa của ý thức hệ. Sự lụy phiền bởi ý thức giai cấp do những con người giai cấp nhìn nhận, đánh giá, với cái nhìn thiên kiến đã vô hình đẩy nghệ phẩm của người nghệ sĩ vào những toan tính phi thẩm mỹ.
    Có thể, người đọc áp đặt lên tác phẩm những suy nghĩ giản đơn mà kinh nghiệm đời tư, hẹp hòi do một nhóm người có cùng lợi ích yêu cầu, đặt lên trên những giá trị vốn có của tác phẩm. Trong trường hợp ấy, tác phẩm văn nghệ đã trở thành một nạn nhân của nhóm người đọc kia. Chỉ khi một nhóm người đọc khác có khả năng thẩm định, đánh giá đúng giá trị, thì tác phẩm của người viết ấy mới được đón nhận, được sống trong môi trường mỹ cảm lành mạnh. Và chỉ khi ấy, nó mới thực sự được sống cuộc đời của một thân phận tự do.
    Tác phẩm của người viết cũng giống như đời một con người, nó luôn chịu sự chi phối, ràng buộc và thậm chí quyết định đến sự sống còn từ các mối quan hệ xã hội bên ngoài nó. Mối quan hệ ấy có khi chỉ dừng lại ở mức độ văn hóa, nhưng đôi lúc lại phức tạp hơn khi tiến tới các mối quan hệ giai tầng có tính chính trị, hoặc nhẹ nhàng hơn là quan hệ cảm xúc của những con người đa cảm, hoặc là quan hệ nghề nghiệp, quan hệ giải trí giản đơn… Và trong mỗi quan hệ lựa chọn ấy, thì đời sống của tác phẩm cũng chịu sự quy định ở những thang bậc khác nhau. Vì vậy, văn bản của người viết từ khi sinh ra vốn sẵn mang trong mình thân phận của một tinh thần xã hội. Sự phiêu lưu về tư tưởng của nó trong thế giới người đọc với ba bảy loại người đọc, có mục đích, ý đồ và khả năng thẩm thấu tri thức khác nhau sẽ tạo ra những thang bậc thăng trầm của sự tồn tại tác phẩm trong ý hướng tính hướng về nó khác nhau. Và cũng tùy từng loại tác phẩm, với sức mạnh nội tại được người viết trang bị khác nhau mà có ý thức phản kháng hay chấp nhận chịu kiếp đời bi kịch như một thân phận tinh thần khác nhau. Điều đó không phải là luận chứng để cố biện minh cho tính tự thân của tác phẩm văn nghệ, mà thực chất quá trình ấy quy định đặc trưng gợi mở và tương liên của tác phẩm trong mối quan nghệ với người đọc.
    Một văn bản khi được bung phá ra cuộc đời, nó là vật vô tri về hình thức chất liệu, nhưng ý nghĩa gợi mở về tinh thần của chủ thể đọc nơi nó thì luôn tiềm ẩn. Nó không phải là điều hiển hiện mà con người có thể nắm bắt ngay được. Nó đòi hỏi người đọc hướng con mắt của nhà siêu hình học khám phá những tầng lớp thẩm mỹ hoặc tầng bậc nghĩa, dựa trên kinh nghiệm văn hóa có sẵn trong mình nhằm phát hiện và khám phá ý nghĩa mới cho một thế giới mới thuộc và chỉ thuộc riêng về cảm quan cá nhân anh ta. Điều này cho thấy, giá trị của văn bản không phải là ý nghĩa được dựng sẵn trong nó mà chỉ là những dữ kiện nhằm gợi mở ý thức hướng đến của chủ thể đọc, để từ đó, tự người đọc hình dung và tưởng tượng về văn bản dựa trên kinh nghiệm và khả năng suy tưởng của mình. Và thế giới tinh thần không ngừng được kiến tạo ở sự hư vô hóa ý định sẵn có bên ngoài của chủ thể đọc, định hình cho thế giới tưởng tượng mở ra bất tận theo những kinh nghiệm thẩm mỹ, những tri thức và chân trời văn hóa. Khi một thế giới tinh thần nơi người đọc được mở ra, thì cùng lúc ấy, sứ mệnh của tác phẩm văn nghệ cũng được hoàn tất trong vai trò của "người" chứng kiến, gieo vào ý thức kinh nghiệm bạn đọc những dữ kiện gợi mở và nó chỉ dừng lại ở vai trò gợi mở. Sự gợi mở ấy hướng đời sống tinh thần bạn đọc đi đến đâu, thì lại phụ thuộc vào thế giới kinh nghiệm thẩm mỹ của người đọc.
    Trong mỗi khoảnh khắc bạn đọc được thả mình trôi theo ký ức tưởng tượng, thì bóng dáng của tác phẩm văn nghệ và người nghệ sĩ cũng được phiêu lưu trong thế giới mới - nơi chỉ có người đọc mới phát hiện và sáng tạo nên nó. Vậy là, tác phẩm văn nghệ đã làm một cuộc hành trình, phiêu lưu không ngừng trong thế giới xa lạ của những con người xa lạ bên ngoài. Nó chịu sự bấp bênh từ sự tưởng tượng của người đọc. Nếu gặp người đọc uyên bác, sẵn sàng tự quy giản ý thức thẩm mỹ cá biệt để mở lòng ra đón nhận ánh sáng tinh khiết ban đầu mà nó hướng tới, lóe chụp ý nghĩa khởi nguyên không kèm theo thái độ toan tính, hay định kiến văn hóa, thì nó sẽ giúp bạn đọc được thăng hoa về cảm xúc, cảm nhận được cái thần khí, cái khoan khoái của một người đi trong đêm tối bắt chụp được ánh đèn từ xa rọi tới. Nhưng cũng vẫn là văn bản ấy, trên "đường đời" nhiều thăng trầm của sự đọc, nó lại sa vào vòng tay đầy oan nghiệt, gai góc từ phía những tâm hồn thiển cận, được "bồi tụ" bởi những suy tư hẹp hòi, kèm theo ý thức xét hỏi đầy khinh miệt, mang sẵn cái nhìn định kiến, bảo thủ, thì tác phẩm ấy của người viết chẳng khác nào thân phận cô Kiều khi rơi và tay Mã Giám Sinh và Tú Bà, đẹp là thế, thánh thiện trong sáng là thế mà vẫn chỉ là "kỹ nữ", là "hồng nhan bạc phận" chốn lầu xanh tủi cực, cô độc.
    Cũng là văn bản ấy, nhưng trong ý thức tự do của những con người tiến bộ, thì nó lại là mầm mống chống lại sự tha hóa của nghệ thuật truyền thống, chống lại sự xuống cấp và phi nhân của con người, chống lại sự áp chế tối cao của quyền lực tri thức. Trong xã hội luôn chứa đựng những thái cực khác nhau của quá trình thẩm định thẩm mỹ. Có thể, người đọc hăng hái gieo lên văn bản ý nghĩa thanh khiết của sương mai lúc nửa đêm, nhưng cũng có thể là sự đọa đầy đến tha hóa của tinh thần chủ quan cá biệt. Điều ấy cho thấy sức mạnh của người đọc có tác động quan trọng đến sự tồn tại của văn bản, và là nhân tố số một quy định sự hoàn thiện và thăng hoa đến đỉnh cao của văn bản.
    Trong ý nghĩa thiết thực nhất, tác phẩm không hẳn là cầu nối giữa ý tưởng nhà văn sát gần với khả năng hiểu của người đọc, mà nó còn chắp thêm đôi cánh cho những ý tưởng sâu thẳm nơi thế giới tinh thần người đọc, vốn bị ý thức xã hội hiện thời vùi lấp và che khuất, để khai minh ý thức sáng tạo, mở ra một hành trình hư vô hóa tất cả những gì đang hiện hữu. Hành trình ấy hướng đến sự khám phá và sáng tạo thế giới mới - nơi mà mọi thứ dường như đang bắt đầu. Cứ thế, thế giới này chồng lấp thế giới kia, ý nghĩa văn hóa và ý nghĩa sự sống theo đó cũng được dàn trải không ngừng theo thời gian. Còn sáng tạo là còn lý do để tồn tại. Vì vậy, đọc chính là sáng tạo của sáng tạo và người đọc chính là tác giả của các tác giả. Ở đây, tôi loại trừ đối tượng đọc hờ hững, lướt qua trên mặt giấy như những cuộc tình thoáng chốc đối tác phẩm văn nghệ của người viết, mà hướng đến người đọc đích thực, người đọc đúng nghĩa của động từ ĐỌC.

(Bài đã đăng trên TC Nhà văn, ISSN: 1859 – 493X, Số 05/ 2013)

VÌ MỘT NỀN HIỆN TƯỢNG LUẬN VĂN HỌC


Ngô Hương Giang


Bìa sách "Hiện tượng luận về văn học"


Có lẽ chưa một khoa học nào lại có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ tới tư tưởng thế giới thế kỷ XX và XXI như Hiện tượng luận. Hiện tượng luận, như ông tổ của nó, Edmund Husserl đã chỉ ra, trước hết, nó là một môn học về bản chất các hiện tượng; và lập trường của nó kêu gọi chủ thể tính bằng phương pháp truy nguyên bản chất hãy quay về với chính sự vật. Trải qua những phê phán và không ngừng phê phán, Hiện tượng luận đã phát triển và hoàn thiện lập thuyết của Husserl, với nhiều nhánh khác nhau, mà mỗi nhánh ấy đều có ảnh hưởng nhất định tới các lý thuyết văn học “đình đám” trong 2 thế kỷ này.
           Hiện tượng luận thông diễn của M. Heidegger (Hermeneutical Phenomenology) đã đặt nền cho lý thuyết thông diễn học trong văn học, với sự góp mặt của nhiều tên tuổi vĩ đại như H. Gadamer, D. Hirsch, Paul De Man, P. Ricoeur, đặc biệt là sự mở ra với thuyết Giải cấu trúc (Deconstruction) với các tên tuổi như J. Dérrida, M. Foucault, J. Habermas… Hiện tượng học tri giác của Maurice Merleau Ponty  từ khi ra đời đã nhanh chóng khẳng định vị trí của mình trong các khoa học nhân văn, đặc biệt là lý thuyết tiếp nhận trong văn học, ở phương pháp phê bình ấn tượng, phê bình trực giác. Những phương pháp này có sức ám ảnh lớn tới phê bình h(ậu)iện đại, mà chúng ta sẽ thấy sau này. Ở Việt Nam, trước 1975, việc tiếp nhận Hiện tượng luận chủ yếu từ Hiện tượng luận tri giác của Merleau Ponty, mà trong phần lịch sử vấn đề, chúng tôi sẽ nói rõ hơn. Hiện tượng luận hiện sinh như là sự phát triển trực tiếp trên nền tảng Hiện tượng luận tiên nghiệm của E. Husserl, có tác động trực tiếp tới lý thuyết văn học hiện sinh, lý thuyết cơ cấu luận tinh thần với các tên tuổi lớn như J. Sartre, K. Jasper, G. Marcel, J. Lancan, J. Piaget…
          Sự kết hợp giữa hiện tượng luận với chủ nghĩa Marx của các triết gia lớn như L. Althusser, K. Popper và đặc biệt là Trần Đức Thảo có ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống tư tưởng châu Âu. Xây dựng trên nền của khoa Hiện tượng luận, P. Ricoeur đã thấy ở luận lý nơi Husserl những giới hạn cần bổ sung, đặc biệt là phép phân tích ngôn ngữ như là trung giới giữa chủ thể ý hướng tính và đối tượng mà ông kế thừa từ Hiện tượng luận thông diễn của Heidegger, đã xây dựng nên thuyết Thông diễn hiện tượng luận (Phenomenological Hermeneutics) (hay còn gọi là thông diễn học chiết trung). Trong đó, việc khai sinh vĩ đại của tư tưởng, tạo đà cho sự hiện diện chủ nghĩa Hậu hiện đại những năm 60 của thế kỷ XX, có thể xem là đóng góp lớn nhất trong lịch sử tư tưởng của Hiện tượng luận. Những lý thuyết gia kỳ cựu của Hậu hiện đại đều là những học trò ưu tú của mái trường Hiện tượng luận được khởi ra từ Husserl. F. Lyotard trước khi là vị chủ thuyết của Hậu hiện đại đã từng là người phổ biến Hiện tượng luận vào các khoa học nhân văn như thể lời “rào trước đón sau” cho sự xuất hiện của lý luận Hậu hiện đại. J. Dérrida, trước khi viết cuốn Writings and Difference đã là môn đồ xuất sắc của Hiện tượng luận qua cuốn Speech and Phenomena, Of spirit: Heidegger and the question… J. Habermas trước khi là nhà lý thuyết Hậu hiện đại từng là người ra sức khẳng định Hiện tượng luận tiên nghiệm của Husserl, chúng ta có thể thấy qua cuốn sách có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng Hậu hiện đại nơi Habermas của Tom Rockmore:  Habermas on Historical Materialism (Studies in Phenomenology and Existential Philosophy). Các tác giả như R. Rorty, M. Foucault, J. Culler đều là những nhà nghiên cứu về Hiện tượng luận, bằng lối phân tích ngôn ngữ sử tính của Heidegger và lý thuyết tín hiệu của Husserl… Chỉ chừng đó thôi, chúng ta đã thấy sự ảnh hưởng lan rộng mạnh mẽ của Hiện tượng luận như thế nào.
Có thể khẳng định ngay rằng, đến thời điểm này, ở Việt Nam chưa có chuyên luận nào viết về Hiện tượng luận trong văn học. Các nhà nghiên cứu Hiện tượng luận ở Việt Nam, hoặc diễn giải thuần lý thuyết triết học, hoặc chỉ giới thuyết Hiện tượng luận như một phương pháp phê bình trong văn học, hoặc chỉ là những bài phê bình có tính ứng dụng lý thuyết Hiện tượng luận vào một vấn đề, một tác phẩm văn học cụ thể.
Việc tiếp nhận lý thuyết Hiện tượng luận trong vai trò triết học ở Việt Nam cũng không thực sự phổ biến. Ngoài tác phẩm lập thuyết kinh điển của Trần Đức Thảo có tên Hiện tượng học và Chủ nghĩa duy vật biện chứng, đến nay chúng ta cũng chỉ có ba chuyên luận khảo về Hiện tượng luận với vai trò là triết học, một cách chính thống (tức được in ấn và công bố). Hai tác phẩm xuất bản trước 1975 và một tác phẩm xuất bản năm 2011, ngoài ra còn có các chuyên khảo đăng tải trên mạng Inernet của Trần Văn Đoàn có tên Thông diễn học và khoa học nhân văn, trong đó, ông dành 2 chương để bàn về Hiện tượng luận.
Như chúng tôi đã chỉ ra, Trần Đức Thảo là người duy nhất ở Việt Nam đã sáng lập (chúng tôi nhấn mạnh) Hiện tượng luận duy vật ngay từ những năm 50 của thế kỷ XX. Trong công trình Hiện tượng học và Chủ nghĩa duy vật biện chứng, Trần Đức Thảo đã kéo Hiện tượng luận từ Husserl đến gần với chủ nghĩa Marx, tác phẩm chứng tỏ ông đã đọc và nghiên cứu rất kỹ về những truy luận của Husserl. Tuy nhiên, với việc quá ép mình vào chủ nghĩa Duy vật, nên Trần Đức Thảo đã hiểu chưa đúng phần nào đó Husserl, đặc biệt là trong diễn giải về Subjectivity. Hơn nữa, đúng như lời tự thuật của Trần Đức Thảo, ông chưa từng đọc cuốn Cartesian meditations ( Những suy niệm trong tinh thần Descartes) nên ông đã xem hoạt động hướng về thực tiễn của chủ thể là hành vi thuần tâm lý mang tính chủ quan, trong khi đó, chính Husserl đã phê phán điều này ở Descartes, và phát triển cái Tôi suy tưởng của ông lên mức cao hơn của Tôi-tiên nghiệm, đạt tới cảnh giới cao nhất trong việc thông hiểu bản chất hiện tượng.
Trước 1975, ở miền nam Việt Nam có hai công trình biên khảo về triết học Hiện tượng luận, một của Trần Thái Đỉnh và một của Lê Thành Trị, tuy nhiên như đã nói, hai công trình này chỉ mang tính chất diễn giải, dọn chỗ cho sự dẫn nhập chứ chưa thực sự là một công trình nghiên cứu đúng nghĩa. Trần Thái Đỉnh với cuốn Hiện tượng học là gì? (Hướng Mới xuất bản 1968) là sự diễn giải 16 trang dẫn nhập cuốn Phenomenology of Perception (Hiện tượng luận về Tri giác) của Maurice Merleau Ponty, trong đó nhấn mạnh chủ yếu vào lập trường Hiện tượng học cùng những quan điểm của nó. Lê Thành Trị với Hiện tượng luận về hiện sinh là một công trình biên khảo về Chủ nghĩa hiện sinh nhưng dưới góc nhìn Hiện tượng luận, chứ không phải là công trình thuần biên khảo về Hiện tượng luận.
Năm 2011, NXB Chính trị quốc gia có cho ấn hành chuyên khảo của Nguyễn Trọng Nghĩa về Hiện tượng luận mang tên Hiện tượng học của Edmund Husserl và sự hiện diện của nó ở Việt Nam. Theo tôi, đây là công trình diễn giải lại 2 cuốn sách chính của Husserl là IdeasLogical Investigations, cùng cuốn của Trần Đức Thảo, cho nên việc hiểu sai Husserl là điều không tránh khỏi. Đóng góp lớn nhất của cuốn biên khảo này là giới thiệu một cách dễ hiểu những vấn đề căn cốt của Hiện tượng luận tiên nghiệm mà Husserl đã tạo dựng và gây ảnh hưởng suốt hai thế kỷ XX - XXI.
Ngoài 3 công trình trên, cuốn biên khảo triết học có “tính cách” Hiện tượng luận, mà đúng hơn là tác phẩm phê phán tư tưởng Sartre nhìn từ Heidegger của Tam Ích có tên Sartre và Heidegger trên thảm xanh (Hồng Đức xuất bản 1969) có thể xem là cuốn sách đáng đọc. Tam Ích, người đã ướm bàn chân triết văn của mình vào bên trong dấu chân của Sartre, cho nên, cuộc đời ý thức ý hướng nơi ông cũng giống Sartre – “Anh hùng nạn nhân của ý thức khốn khổ” (André Niel). Song, chính Sartre và Heidegger trên thảm xanh đã “định luận” giá trị nơi con người ông, đặt ông vào thảm xanh của triết lý, tư tưởng và văn học. Tác phẩm là văn bản phê phán tư tưởng Sartre, đặc biệt là tinh thần nệ Pour Soi của ông. Tác giả cuốn sách đã đặt Sartre bên cạnh Heidegger, mà đúng hơn là đặt cái Être của Sartre bên cạnh cái Sein của Heidegger, đặt bản thể luận Pour Soi của Sartre bên cạnh Dasein của Heidegger. Từ đó để thấy, hành trình ý thức nơi Sartre là hành trình của “những thất bại”, hành trình của những đuổi bám phi giới hạn, của ý thức vượt thoát. Ý thức đó nơi Sartre luôn vượt thoát khỏi Sartre, nhưng cũng chính nó đẩy Sartre vào bi kịch của ý thức tự quy. Đặt Sartre bên cạnh Heidegger, với Tam Ích là một “ý đồ” rất rõ ràng. Tuy cùng trên thảm xanh của triết lý sự sống, nhưng người dắt bóng triết học lên tấm thảm vinh quang ấy chính là Heidegger, mà nói đúng ra, Heidegger đã “ẵm bế” “dẫn dắt” tư tưởng của Sartre lên thảm xanh. Cái bóng vinh quang của triết học thảm xanh ấy đổ từ trên đỉnh đầu Heidegger xuống bàn chân “giao động” nơi Sartre. “Vụ án” triết học Heidegger chính là phần Tam Ích dùng để “soạn diễn từ tưởng niệm” số phận “triết lý” Heidegger, chính thức quàng lên “vai” người khổng lồ về tri thức ấy vòng nguyện quế được đan cài từ muôn “lời vàng tiếng ngọc”. Đó là tác phẩm lớn đáng đọc nhất của Tam Ích.
Ngoài công trình lớn của Tam Ích, có thể kể đến một số tác giả, tác phẩm biên khảo triết học có “tính cách” Hiện tượng luận như Trần Thái Đỉnh với Triết học hiện sinh (Thời Mới in năm 1967), Lê Tôn Nghiêm với Đâu là căn nguyên tư tưởng? hay con đường triết lý từ Kant đến Heidegger (Trình Bày ấn hành năm 1970), Heidegger trước sự phá sản của tư tưởng Tây phương (Lá Bối ấn hành năm 1970), Những vấn đề triết học hiện đại (Ra Khơi ấn hành năm 1971), Nghiêm Xuân Hồng với Đi tìm một căn bản tư tưởng (Giao Điểm  ấn hành năm 1967), Nguyên tử hiên sinh và hư vô(Hoàng Đông Phương ấn hành năm 1969), Ngô Trọng Anh với Đường trở về (Ca Dao  ấn hành năm 1973), đặc biệt là Phạm Công Thiện với Im lặng hố thẳm (An Tiêm ấn hành năm 1967), Ý thức bùng vỡ (Đồng Nai ấn hành năm 1971), Hố Thẳm tư tưởng (Phạm Hoàng ấn hành năm 1970)…
Hiện tượng luận trong triết học ở Việt Nam còn được các tác giả nghiên cứu bàn luận trong các số của Tập san Tư tưởng, do Viện Đại học Vạn Hạnh ấn hành suốt từ 1968 trở đi, đặc biệt là trong các số 1, 2, 3, 6 với các tác giả như: Lê Tôn Nghiêm, Trần Thái Đỉnh, Ngô Trọng Anh, Phạm Công Thiện, Trần Công Tiến…Tuy Hiện tượng luận đã xuất hiện khá sớm ở Việt Nam, nhưng sự hiện diện của nó chưa đủ và chưa có hệ thống cho một sự hiểu xuyên suốt. Ngoài ra, trong một số sách giới thiệu các tư tưởng hiện đại, Hiện tượng luận được đề cập cũng chỉ với tính chất dẫn nhập như Nguyễn Hào Hải với Một số học thuyết triết học phương Tây hiện đại, Phạm Minh Lăng với Mấy trào lưu triết học phương Tây …
Trong văn học, Hiện tượng luận xuất hiện chủ yếu ở lĩnh vực phê bình, khảo cứu với vai trò một phương pháp.
Trước 1975, Lê Tuyên được xem là người “nổ phát súng” tiên phong cho phương pháp phê bình Hiện tượng luận trong văn học. Qua hai công trình Chinh phụ ngâm và tâm thức lãng mạn của kẻ lưu đày (do Đại học Huế ấn hành 1961) và Nguyễn Bỉnh Khiêm và thảm trạng trí thức trong thân phận làm người, Lê Tuyên đã đặt nền tảng cho phê bình hiện tượng luận văn học ở Việt Nam, qua cái nhìn mơ mộng được phóng xuất ý hướng tính về đối tượng. Trong Chinh phụ ngâm và tâm thức lãng mạn của kẻ lưu đày, qua “cái nhìn về cuộc đời”, “cái nhìn vào số phận” với “không gian và hiện hữu lưu đày” “không gian mơ về từ mộng”, “không gian và hiện thực li bôi”, “không gian và chủ thể yêu thương”, Lê Tuyên giải mã nguyên nhân tấm thảm trạng bi kịch lưu đầy trong tâm thức của người Chinh Phụ. Nàng đã ném cái nhìn định kiến chủ quan về phía người chồng đang biền biệt chốn biên cương. Bi kịch của nàng là bi kịch của cấp nghĩa và cho nghĩa, nhưng không phải bằng quá trình hoàn nguyên tiên nghiệm sau khi đã quy giản bản thân, mà là cái nhìn phóng chiếu theo sự mơ về hình ảnh của người chồng sẽ trở về trong tâm thế “mũ mão cân đai đề huề”.
Nàng đã đem cái nhìn mơ mộng về sự xuất hiện của người chồng lý tưởng nhằm hướng tới, phóng xuất về phía hình ảnh người chồng đang biệt xứ. Đến khi nhận ra sự thực, chính người chồng lí tưởng ấy đã “bóp méo” ý thức tiên nghiệm mà nàng hướng về chồng mình. Chính khát vọng cuộc sống hạnh phúc đã trở thành “thiết chế thông tin” vây hãm, lấn át, che mờ con người thực, con người hoàn nguyên hiện tượng luận nơi nàng. Khi nhận ra thì mọi sự đã rồi, người ra đi kẻ ở lại, ánh trăng trên đầu không soi tỏ nỗi lòng se thắt, quặn đau của tâm thức lưu đầy tuyệt vọng ấy. Trong số những cuốn phê bình về Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn, đây là cuốn đáng đọc nhất. Từng lời, từng chữ như phóng chiếu, xuất thể những tinh anh và tâm thức mơ mộng. Chủ thể tính muốn vượt thoát hoàn cảnh, nhưng đời không cho vượt thoát, quy hồi nội giới để ẩn mình, sống trong cảnh lưu vong tinh thần. Người Chinh Phụ, cũng như tác giả của cuốn Chinh phụ ngâm và tâm thức lãng mạn của kẻ lưu đày nhiều lúc đã vượt biên tinh thần để trốn thoát đau khổ, nhưng vượt qua lằn ranh tinh thần này thì lại vướng vào sự tuyệt vọng của lằn ranh tinh thần khác. Cả đời chỉ đuổi bắt những mộng mơ cô độc không dứt.
Các tác giả như Nguyên Sa, Nguyễn Văn Trung, Đặng Phùng Quân, Huỳnh Phan Anh là những nhà văn kiêm nhà phê bình nhà nghiên cứu triết học, đã đưa Hiện tượng luận vào văn học trong vai trò lược khảo, nhận định, dẫn nhập những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống văn học, cần phải khai thác. Nguyên Sa (Trần Bích Lan) trong cuốn Quan điểm văn học và triết học đã dành hai mục lớn ở phần 1 để giới thiệu về Hiện tượng luận trong sáng tạo và phê bình văn học. Nguyễn Văn Trung đã cụ thể hoá Hiện tượng luận tri giác của Merleau Ponty trong bộ đôi quan trọng của ông là Ngôn ngữ và Thân xác, Ca tụng thân xác. Ngoài ra, Nguyễn Văn Trung cũng bàn rải rác trong bộ Nhận Định 6 tập của ông (đặc biệt là trong các tập I, II, III và VI). Đặng Phùng Quân thì dành hai phần lớn trong ba phần của cuốn sách Triết học và văn chương để chỉ bàn về văn học dưới cái nhìn Hiện tượng luận của Merleau Ponty như các mục “Văn tự và siêu hình học”, “Đọc/ Viết”, “Bản văn”, “Ngợi ca viết”…Huỳnh Phan Anh trong Đi tìm tác phẩm văn chương dành hẳn một phần lớn, quan trọng để bàn về cái nhìn Hiện tượng luận trong văn học, với các mục “Hành trình tác phẩm”, “Ám ảnh của tác phẩm”, “Phê bình và chống phê bình”…Và, còn nhiều tác giả khác bàn luận trong các tạp chí đặc chuyên về văn học.
Sau 1975, Việc giới thiệu hiện tượng luận trong văn học không phổ biến, nó chỉ nằm trong các sách biên khảo về lý thuyết văn học có tính chất phác thảo, giới thuyết chứ không chuyên sâu. Phương Lựu trong cuốn Mười trường phái phê bình văn học phương Tây đương đại đã dành một mục để giới thuyết về Hiện tượng luận từ triết học tới mỹ học và phê bình văn học. Phạm Văn Sĩ trong Về tư tưởng và Văn học phương Tây hiện đại cũng đã để một mục bàn về Hiện tượng luận của Husserl, khi tác giả nhấn mạnh tới thân phận con người trong văn học. Đặc biệt, trong cuốn Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa, Đỗ Đức Hiểu dành một phần lớn để phê phán hiện tượng luận của Husserl và Sartre. Có thể nói, phần I của cuốn sách là sự thất bại của Đỗ Đức Hiểu khi đánh giá về các tư tưởng Hiện sinh và Hiện tượng luận, cuốn sách do vậy đã suy sút nhiều so với ý tưởng ban đầu của nó.
Từ năm 2000 trở lại đây, các công trình nghiên cứu lý thuyết của Husserl trong văn học cũng không phổ biến. Trong đó, có thể nói công trình Tác phẩm văn học như là quá trình của Trương Đăng Dung là chuyên luận “hiếm” trong nền/hệ thống lý luận văn học ở Việt Nam. Được đào tạo bài bản trong tinh thần hiện tượng luận ở phương Tây, lại trực tiếp nghiên cứu chuyên sâu, Trương Đăng Dung có những đánh giá hợp lý về bản chất văn học cũng như những giới hạn của nó. Văn học giờ đây không phải/ không nên là tấm gương tự nhiên, mà là tấm gương của thế giới tinh thần, phản ánh trung thực thế giới ý niệm mà chủ thể thẩm mỹ có được khi hướng về đối tượng. Thành công của công trình là điều cần ghi nhận.
Với lời đề dẫn vào căn bản Hiện tượng luận (Introduction to phenomenological basic) ở trên, chúng ta phần nào thấy được tính cấp thiết của đề tài. Vì vậy, nghiên cứu Hiện tượng luận về văn học, chúng tôi làm công việc kép của nhà nghiên cứu, giới thiệu những vấn đề căn cốt của Hiện tượng luận ở vai trò triết học, đồng thời hướng cái nhìn cụ thể ấy vào một hiện tượng cụ thể trong thế giới hiện tượng là: Văn học. Do đó, đề án này không phải là sự ứng dụng lý thuyết Hiện tượng luận vào văn học, đúng hơn là, nuôi tham vọng phát triển một nhánh độc lập Hiện tượng luận về văn học trong hệ thống Hiện tượng luận. Như vậy, đây không chỉ đơn thuần là ý hướng thuần túy lý luận văn học, mà, ý hướng ấy còn là triết luận văn học trong tinh thần Hiện tượng luận, điều này sẽ giúp chúng ta tránh khỏi sự nhập nhằng trong quan điểm cũng như vướng víu vào sự độc đoán của lý thuyết, điều mà đương thời, Husserl ra sức phản đối. Hiện tượng luận về văn học sẽ đem đến cách nhìn đúng đắn về bản chất của khoa học nhân văn và lý thuyết văn học, nó tiếp nhận bình đẳng các quan niệm, các ý kiến trái chiều trong diễn giải.
                                                      (Bài đã đăng trên TC Nhật Lệ tháng 05/2013)