Thứ Tư, 15 tháng 4, 2015

THƯ MỜI CÀ PHÊ SÁCH: “DIỆN MẠO TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY HIỆN ĐẠI” của PGS. TS Đỗ Minh Hợp


SALON VĂN HÓA CÀ PHÊ THỨ BẢY
THƯ MỜI
CÀ PHÊ  SÁCH
Các anh chị và các bạn thân mến.
Vào 14h30 chiều thứ bảy ngày 18/04/2015,,
tại  quán CÀ PHÊ THỨ BẢY,
số 3A Ngô Quyền, Hoàn Kiếm, Hà Nội
sẽ diễn ra buổi “cà phê” với PGS,TS  ĐỖ MINH HỢP
về cuốn sáchDIỆN MẠO TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY HIỆN ĐẠI
Chủ trì: NNC Ngô Hương Giang
Rất mong anh chị và các bạn đến tham dự.
Hân hạnh được đón tiếp.
GĐCPTB
      Nhạc sĩ Dương Thụ    
              ___________________________________                                                                                         
LỜI DẪN

(Tóm tắt nội dung của cuốn sách của GS Đỗ Minh Hợp)

Bìa cuốn sách

1) Cách tiếp cận với triết học phương Tây hiện đại

Mỗi thời đại lịch sử văn hóa đều đặt ra những vấn đề, những thách thức xác định đối với tồn tại người. Triết học luôn tìm kiếm câu trả lời cho những vấn đề có liên quan đến con người, đến tồn tại người. Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy đặc trưng cho tri thức triết học là nội dung văn hóa nhân văn, đạo đức và mục đích sống của con người. Chính cái nhìn từ góc độ này cho phép chúng ta nhận thấy sự đặc thù của những vấn đề triết học phương Tây hiện đại đặt ra và giải quyết trong bối cảnh văn hóa tinh thần phương Tây hiện đại. Có thể khẳng định, triết học phương Tây hiện đại cùng với hệ vấn đề của nó tạo thành một giai đoạn mới trong tiến trình lịch sử triết học thế giới. Do vậy, tìm hiểu những vấn đề hiện đại của triết học phương Tây là một nhiệm vụ thật sự cần thiết đối với công việc nghiên cứu lịch sử triết học, đặc biệt là trong bối cảnh tiếp biến văn hóa toàn cầu hiện nay.
Hegel từng nhận xét: “triết học cần phải đề phòng khát vọng trở thành kẻ đi giáo huấn”. Triết học cần phải có cảm hứng mới, được giải phóng khỏi tính chất giáo huấn, thật sự mang tính nhân văn. Để điều đó diễn ra, cần phải có những nỗ lực tự giác nhằm khắc phục hàng loạt khuôn mẫu đã hình thành trong triết học. Đó trước hết là việc khắc phục thái độ cảnh giác cao độ đối với triết học phương Tây với tính cách một hiện tượng văn hóa tinh thần nhân văn. Trong điều kiện hiện đại, thái độ trịnh thượng đối với triết học phương Tây cần phải bị loại bỏ. Quay lưng lại với những thành tựu của triết học phương Tây hiện đại có nghĩa là tự đưa mình vào địa vị biệt lập với thế giới triết học, là thỏa mãn với vai trò của kẻ đứng ngoài tiến trình phát triển triết học và văn hóa chung nhân loại. Những hậu quả của chủ nghĩa biệt lập về văn hóa có ảnh hưởng rất tiêu cực đối với thế hệ trẻ. Thế hệ trẻ cần phải có được khả năng rút ra những bài học nghiêm túc từ kinh nghiệm thời hiện đại để bước vào thiên niên kỷ mới không phải trong trạng thái rối loạn tâm trí mà với thái độ sẵn sàng đón nhận mọi thử thách. Trong bối cảnh đó, một nhiệm vụ cấp bách đối với chúng ta là tổng kết những thành tựu phát triển triết học phương Tây hiện đại nhằm khảo cứu những sự kiện, những thành công và thất bại của thời hiện đại trên bình diện triết học.
Tôi tất nhiên không có tham vọng và cũng không có khả năng đưa ra một đánh giá căn bản và cụ thể về toàn bộ triết học phương Tây hiện đại. Ngược lại, tôi chỉ đặt ra cho mình một nhiệm vụ là nỗ lực truyền đạt tinh thần của triết học phương Tây hiện đại, định hướng về nội dung, các động cơ tìm tòi triết học nhờ làm sáng tỏ các đặc điểm của cách đặt ra và giải quyết những vấn đề có liên quan tới con người trong thế giới phương Tây hiện đại. Tôi không có chủ ý trình bày toàn bộ thông tin, mà chỉ muốn kích thích quan tâm tới triết học, nghiên cứu nó cách nghiêm túc và sâu sắc.

2) Những nội dung cơ bản của cuốn sách

Cuốn sách này sẽ cố khái quát tài liệu triết học hiện đại để qua đó làm sáng tỏ những tư tưởng và quan điểm của các triết gia phương Tây hiện đại, để chỉ ra các xu hướng đặc trưng nhất cho triết học hiện đại, phân biệt nó với triết học cận hiện đại. Khác biệt mang tính nguyên tắc này có liên quan không những đến nội dung các tác phẩm triết học hiện đại mà còn có liên quan đến bản thân tinh thần của chúng: triết học hiện đại thể hiện rõ thái độ lo lắng và quan tâm đến số phận của con người và của loài người. Phần lớn các triết gia phương Tây hiện đại không tán thành thái độ lạc quan của tệ sùng bái tiến bộ (“tiến bộ giáo”) đặc trưng cho thế kỷ XIX. Phân tích các tác phẩm triết học hiện đại cho phép chuyển tải năng lượng tinh thần gắn liền với cảm nhận thế giới đặc biệt của các triết gia hiện đại - thái độ lạc quan mang tính bi kịch, biểu thị lòng dũng cảm thừa nhận những mối nguy hiểm đang đe doạ loài người và thái độ kiên quyết khắc phục chúng.
Chính vì vậy, tôi thấy cần phải làm sáng tỏ bối cảnh tinh thần phương Tây hiện đại cùng với điều kiện trở nên đặc biệt phức tạp của tồn tại người. Triết học hiện đại nhấn mạnh rằng, trái với hy vọng, cả tiến bộ khoa học - kỹ thuật, cả tiện nghi và chất lượng sống đi liền với chúng đều không làm cho cuộc sống của con người hiện đại trở nên nhẹ nhàng hơn về mặt tâm thần - tinh thần. Ngược lại, thời hiện đại đề ra những đòi hỏi cao hơn cho con người. Tính chất bi đát đặc biệt của bối cảnh hiện đại là con người thường không sắn sàng vượt qua gánh nặng tâm thần - đạo đức của cuộc sống hiện đại, chống lại những cú đòn của số phận cách thỏa đáng. Do vậy, tôi cố thu hút quan tâm đến các tác phẩm triết học đặc biệt nhấn mạnh sự cần thiết phải có những nỗ lực tự giác và có mục đích rõ ràng nhằm duy trì và bảo vệ những giá trị bất biến của tồn tại người: chân lý, công bằng, cái thiện, cái đẹp, bổn phận, tình yêu, lòng nhân ái và đồng cảm. Chỉ có tư duy hời hợt mới coi những giá trị này là đã lỗi thời và đánh mất tính hiện đại. Theo các triết gia hiện đại nổi tiếng, trong điều kiện xã hội đám đông, những giá trị này đang bị phủ định ngày một tăng, song ý nghĩa xã hội và nhân văn của chúng không những không giảm mà còn tăng lên hơn bao giờ hết.
Nhân đây, cuốn sách sẽ đặc biệt quan tâm tới vấn đề ngôn ngữ, ý thức và giao tiếp. Theo niềm tin sâu sắc của tác giả, triết học phương Tây hiện đại đã thực hiện bước ngoặt cho phép chuyển biến hệ vấn đề ngôn ngữ, ý thức và giao tiếp từ lĩnh vực ngoại diên của tri thức triết học thành một trong các lĩnh vực trung tâm của tri thức triết học. Không phải ngẫu nhiên mà triết học hiện đại đã phát triển mạnh mẽ các khuynh hướng tư tưởng triết học, như hiện tượng học, chú giải học, triết học ngôn ngữ. Tiếc thay là bước ngoặt ấy chưa được chúng ta quan tâm thỏa đáng. Trong khi đó, nếu không tính đến vị trí và vai trò của hệ vấn đề ngôn ngữ, ý thức và giao tiếp, thì không thể có được một quan niệm chân thực về triết học phương Tây hiện đại. 
Tôi thấy cần phải trình bày nội dung của triết học phương Tây hiện đại không phải từ các vấn đề bản thể luận, mà từ đề tài bối cảnh tinh thần phương Tây hiện đại, hệ vấn đề ý thức, ngôn ngữ, giao tiếp, vì chỉ sau khi đưa ra các đặc trưng của bối cảnh tinh thần phương Tây thời hiện đại dựa trên tác phẩm của bản thân các triết gia phương Tây hiện đại lớn nhất và nêu bật ý nghĩa của hệ vấn đề ngôn ngữ, ý thức và giao tiếp, thì mới có thể truyền đạt được tinh thần và đặc thù của triết học phương Tây  hiện đại.
Những vấn đề toàn cầu của thế giới hiện đại giữ một vị trí đặc biệt trong cuốn sách này. Tính thực tại của nguy cơ thảm họa hạt nhân, thảm họa sinh thái, cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, những biến đối tiêu cực về khí hậu, v.v. có một ý nghĩa to lớn trong việc khảo cứu thời hiện đại trên bình diện triết học. Do vậy, những vấn đề toàn cầu được quan tâm đặc biệt, chúng không những được đề cập tới trong cả một chương riêng biệt mà còn hiện diện dưới hình thức này hay hình thức khác trong tất cả các chương, quy định đáng kể nội dung và định hướng của toàn bộ cuốn sách.
Cuốn sách này đặt ra và giải quyết theo cách khác những vấn đề quan hệ giữa triết học và khoa học, nhân học triết học, triết học văn hóa. Cụ thể, tôi đặc biệt lưu ý rằng, triết học phương Tây hiện đại hoàn toàn xa lạ với quan niệm không có vấn đề về văn hóa, ngược lại, các triết gia phương Tây hiện đại kiên quyết vạch ra những mâu thuẫn của văn hóa, khước từ cái nhìn về văn hóa như một phương tiện vạn năng cho phép giải quyết mọi vấn đề, tất nhiên họ cũng không bảo vệ sự man rợ và chủ nghĩa ngu dân.
Nhân học triết học được xem là hiện tượng tri thức siêu hình học bắt nguồn từ các đặc thù của thời hiện đại, nhìn chung chưa được biết tới trong triết học quá khứ. Nhân học triết học hiện đại đưa ra quan niệm rằng, nhiều vấn đề xã hội, như quan hệ giữa xã hội và tự nhiên, bắt nguồn không phải từ các cơ cấu xã hội phi nhân cách, không phải từ cái gọi là các quy luật khách quan, mà bắt nguồn từ bản thân con người. Với nghĩa đó, nhân học triết học đặt con người vào trung tâm của vũ trụ, quan niệm con người là thực thể chịu trách nhiệm chính về số phận của vũ trụ, về toàn bộ kết cấu của giới tự nhiên. Đồng thời nhân học triết học cũng thực hiện cách tiếp cận với con người không những trên các bình diện xã hội mà còn như một loại tồn tại đặc biệt, không những như một thực thể duy lý (có lý tính) mà còn như một thực thể phi duy lý và siêu duy lý. Cách tiếp cận như vậy cho phép khảo cứu con người cách toàn diện hơn, tập trung vào những phương diện nhạy cảm nhất của tồn tại người, như tình yêu, hiếu chiến, sợ hãi, cô đơn hiện sinh, tình dục, v.v..
Trong các chương đề cập tới triết học xã hội và triết học lịch sử, tôi làm sáng tỏ các khái niệm và các vấn đề tiến bộ xã hội, bản chất và mục đích của lịch sử, tính tương giao chủ thể, chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại, v.v.. Nhiều vấn đề này chưa được nghiên cứu thỏa đáng, không tính đến những giải pháp khác nhau của triết học phương Tây hiện đại. Tôi không tán thành thái độ ngạo mạn hoàn toàn vô căn cứ đối với các tư tưởng triết học phương Tây hiện đại phổ biến rộng rãi.
Đánh giá triết học phương Tây hiện đại, tôi sử dụng thuật ngữ “triết học hậu cổ điển” như thuật ngữ đối lập với thuật ngữ “triết học cổ điển”, tức là triết học duy lý cận hiện đại. Phân chia hai giai đoạn triết học - cổ điển và hậu cổ điển - không theo đuổi mục đích lý luận mà chủ yếu theo đuổi mục đích phương pháp, vì phân chia như vậy cho phép nhận thấy rõ hơn các đặc điểm của văn hóa và triết học hiện đại, những khác biệt của nó so với các thời đại trước kia.
Đồng thời, tôi cũng quan tâm nhiều tới những khuynh hướng và những đại diện chủ yếu của triết học quá khứ, bắt đầu từ triết học Hy Lạp cổ đại ở chừng mực quay về lịch sử triết học như vậy cho phép hình thành được quan niệm toàn vẹn về triết học, về các giai đoạn tiến hóa lịch sử cơ bản của triết học.
Phần kết luận được tôi đặt tên là “truyền thống văn hóa nhân văn – tiền đề để nghiên cứu triết học và các khoa học nhân văn”. Truyền thống văn hóa nhân văn hình thành từ tổng thể những quan niệm đạo đức, thẩm mỹ, tôn giáo, pháp lý, khoa học, triết học, v.v. ở chừng mực chúng xem xét và phản ánh các đặc điểm của tồn tại người. Tất cả các thành tố của truyền thống văn hóa nhân văn đều có liên hệ một cách nào đó với sự phản ánh con người và thế giới tinh thần của nó. Văn hóa nhân văn được hiểu là một bộ phận của văn hóa trực tiếp quan tâm tới con người như một hiện tượng đặc biệt, khác với tồn tại tự nhiên thuần tuý.
Tính nhân văn của văn hóa gắn liền không chỉ với việc đối tượng suy ngẫm ở đây là con người. Một điều cũng quan trọng là ở chỗ tính nhân văn thể hiện thái độ đặc biệt đối với con người. Đây là thái độ đối với con người như đối với mục đích chứ không phải như đối với phương tiện, như thái độ đối với giá trị. Đây là khát vọng thấu hiểu thế giới nội tâm của con người - con người khác với tôi, đôi khi sống ở thời đại khác, ở đất nước khác, thuộc về một nền văn hóa khác. Thí dụ, khát vọng thấu hiểu con người bộc lộ rõ trong văn học và nghệ thuật. Tác giả tác phẩm nghệ thuật hay nhà văn cố gắng mô tả thế giới nội tâm của nhân vật, biểu thị tư tưởng và tình cảm của nhân vật, phát hiện ra động cơ hành động của nhân vật. Khi nghiên cứu các sự kiện quá khứ, nhà sử học trong đa số trường hợp cũng không dừng lại ở những lời giải thích sử học mang tính khách quan. Thế giới nội tâm của các nhà hoạt động trong quá khứ cũng là quan trọng đối với nhà sử học giống như các nhân tố kinh tế và xã hội. Đối với việc nghiên cứu những hiện tượng văn học, nghệ thuật, các quá trình văn hóa nói chung thì vấn đề thấu hiểu thế giới tinh thần của con người bao giờ cũng là một trong những vấn đề quan trọng nhất. Đó là đặc điểm của tính nhân văn nói chung: nó không thể thiếu sự quan tâm đặc biệt đến con người, không thể thiếu khát vọng thấu hiểu thế giới nội tâm của con người. Do vậy, tính nhân văn đòi hỏi phải có khả năng đồng cảm, nguyện vọng đứng trên địa vị của người khác, thấu hiểu logic và động cơ bên trong của người khác.
Văn hóa nhân văn có những biểu hiện đa dạng. Đồng thời nó cũng có sự thống nhất nội tại được quy định bởi những đặc điểm căn bản chung, vốn có của con người, cho dù con người có thuộc về dân tộc nào đi chăng nữa, sống ở nước nào đi chăng nữa, có những đặc điểm cá biệt nào đi chăng nữa. Nói cách khác, văn hóa nhân văn có tính toàn vẹn vì nó biểu thị sự thống nhất của loài người. Biến đổi từ thời đại này sang thời đại khác, nó cấu thành một dòng chảy thống nhất, hình thành nên môi trường trong đó mỗi con người cụ thể sinh sống. Bằng cách này hay cách khác, ở mức độ lớn hay nhỏ, văn hóa nhân văn đều tác động đến cá nhân trong suốt toàn bộ cuộc đời của nó, từ thời thơ ấu cho đến lúc già. Biểu thị tính kế thừa của các tư tưởng văn hóa, dòng chảy văn hóa cấu thành truyền thống.
Truyền thống văn hóa nhân văn thể hiện là sự tổng hợp nhiều bộ phận cấu thành. Chúng ta có thể tách biệt trong nó các tư tưởng thuộc về những lĩnh vực khác nhau - triết học, đạo đức, pháp luật, tôn giáo, v.v.. Nhưng, truyền thống có tác động như một quá trình toàn vẹn đến cá nhân. Mỗi một thế hệ mới đều dường như đắm mình vào dòng chảy văn hóa, nắm bắt và thực hiện di sản văn hóa trong tính không phân chia của nó. Sự tồn tại và sự tác động của truyền thống văn hóa nhân văn như một chỉnh thể thống nhất tạo ra các điều kiện cho sự tồn tại và hoạt động của các hình thức văn hóa riêng biệt, trong đó có triết học.
Triết học (giống như mọi đối tượng khác) tất nhiên không thể được quy về các điều kiện của mình. Nhưng, chỉ khi có mặt những điều kiện ấy thì nó mới có thể tồn tại hiện thực chứ không phải tồn tại hư ảo. Chúng ta giả định con người vô tình đánh mất khái niệm về cái thiện và cái ác, hoàn toàn lãng quên lịch sử, không biết đến những tác phẩm văn học và nghệ thuật cổ điển, thì việc lĩnh hội các tư tưởng triết học trong trường hợp này sẽ trở nên cực kỳ khó khăn. Đứng ở bên ngoài truyền thống văn hóa nhân văn thì không thể lĩnh hội và thấu hiểu được nội dung của các phạm trù và các tư tưởng triết học. Chúng dường như biến thành âm thanh chết, các công thức trống rỗng.
Lịch sử loài người biết đến các trường hợp làm đứt đoạn hoàn toàn tính kế thừa văn hóa, đánh mất các giá trị quá khứ. Sự làm đứt đoạn truyền thống thường gắn liền với những thảm họa xã hội, với sự diệt vong của các nền văn minh, v.v.. Cần phải bỏ ra những nỗ lực to lớn để khắc phục những hậu quả tiêu cực của sự làm đứt đoạn mối liên hệ văn hóa, để dần dần khắc phục lại những cái đã đánh mất. Việc làm cho con người hoàn toàn tách ra khỏi truyền thống văn hóa nhân văn sẽ biến nó thành kẻ man dợ, không có được quan niệm về những khái niệm cơ bản của xã hội văn minh.
Trong điều kiện hiện đại, truyền thống văn hóa nhân văn có tác động đến con người kể từ khi bắt đầu ngồi dưới ghế nhà trường. Việc nghiên cứu các môn học như sử học, văn học có một ý nghĩa đặc biệt. Việc làm quen với lịch sử và các tác phẩm văn học cổ điển không chỉ có ý nghĩa nhận thức. Nó có nhiệm vụ đặt cơ sở cho văn hóa nhân văn, đem lại quan niệm về những giá trị cơ bản của nền văn minh, hình thành thói quen nhận thức và giao tiếp một cách nhân văn. Tuy nhiên, không chỉ có sử học và văn học có ý nghĩa văn hóa nhân văn. Tất cả các môn học ở trường phổ thông đều có tác động trực tiếp hay gián tiếp đến quá trình hình thành những phẩm chất nhân văn quan trọng nhất. Thí dụ, toán học góp phần hình thành xây dựng thói quen tư duy có logic. Sẽ là một sai lầm nếu nghĩ rằng quá trình nắm bắt những giá trị văn hóa nhân văn có thể thiếu khả năng tư duy có logic chặt chẽ. Một điều cũng sai lầm là quan niệm cho rằng các khoa học nhân văn căn cứ trên một logic đặc biệt, khác với logic của toán học và của khoa học tự nhiên. Nếu logic như vậy có tồn tại, thì nó không bác bỏ mà giả định các quy luật logic học hình thức là tiền đề cần thiết. Thói quen tư duy có logic là quan trọng như nhau đối với toán học, khoa học tự nhiên và các khoa học nhân văn. Chúng cũng là quan trọng đối với triết học.
Việc kế thừa các tư tưởng văn hóa có một ý nghĩa đặc biệt đối với triết học và các khoa học nhân văn vì bản thân sự tồn tại của tri thức nhân văn có thể bị đe doạ trong điều kiện đánh mất những thành tựu quá khứ. Chỉ có việc có tính đến những thành tựu quá khứ, chỉ có việc thường xuyên phát hiện ra mối liên hệ với bối cảnh văn hóa chung mới cho phép triết học và các khoa học nhân văn giữ được địa vị khoa học, chứ không bị xa xuống cấp độ những sự tư biện trống rỗng. Nhà nhân văn học chỉ trở thành chuyên gia sau khi đã được trang bị tri thức về lịch sử khoa học của mình và lịch sử văn hóa nói chung. Nhãn quan văn hóa quảng bác đối với nhà nhân văn học không phải là sự bổ sung không bắt buộc cho nghề nghiệp mà nằm trong bản thân quá trình đào tạo nghề nghiệp. Trong trường hợp ngược lại, nhà nhân văn học có nguy cơ bị hoàn toàn đánh mất định hướng và vô tình xa xuống những sự tư biện tuỳ tiện.
Những điều hão huyền vô căn cứ và những giả thuyết tù mù là mối nguy hiểm và sự quyến rũ hiện thực đối vơí bất kỳ ai nghiên cứu các khoa học nhân văn. Việc tuân theo nghiêm ngặt các sự kiện cũng không cứu thóat khỏi chúng vì cùng một số sự kiện có thể cho phép xây dựng các toà nhà lý luận khác nhau. Các khoa học nhân văn, kể cả triết học, trong đa số trường hợp đều không có khả năng trực tiếp kiểm tra bằng thực tiễn những kết luận cuả mình hay là sự kiểm tra như vậy đòi hỏi một thời gian kéo dài và những chi phí to lớn. Các phương thức kiểm tra gián tiếp càng có một ý nghĩa lớn hơn trong việc xác định mức độ xác thực của các kết luận lý luận. Trong các phương thức như vậy có việc đối chiếu những luận điểm đưa ra với lịch sử tư tưởng và văn hóa.
Việc làm quen với các tác phẩm cổ điển của văn hóa tinh thần có một ý nghĩa đặc biệt đối với việc nắm bắt có hiệu quả và việc thấu hiểu đúng tri thức khoa học nhân văn. Việc làm quen với chúng lại là càng quan trọng vì thời hiện đại và các sản phẩm sáng tạo tinh thần hiện đại là mang tính hậu cổ điển. Điều này không có nghĩa rằng văn hóa hiện đại thấp kém hơn văn hóa cổ điển. Nhưng, chính văn hóa cổ điển định trước các khuôn mẫu biểu thị rõ nhất các đặc điểm mang tính quyết định của một hình thức, một thể loại văn hóa. Trong mỗi nền văn hóa dân tộc cũng đều có những tác phẩm có ảnh hưởng đặc biệt đến sự phát triển văn hóa sau đó và được gọi là những tác phẩm cổ điển. Tất nhiên là có thể tuân theo hay không tuân theo các mẫu mực cổ điển. Song, hiểu biết chúng, có quan niệm chung về những đặc điểm đặc trưng của chúng là điều kiện tất yếu cho học vấn nhân vaưn và văn hóa. Nó là điều kiện chi tính có nghĩa và tính có luận chứng của những phán đoán trong triết học và các khoa học nhân văn.
Giá trị của truyền thống văn hóa nhân văn đối với triết học và các khoa học nhân văn không chỉ là ở chỗ truyền thống này thể hiện là tổng thể những tri thức, Tham gia với tính cách một vòng khâu mới vào sự phát triển có kế thừa của văn hóa, mỗi thế hệ mới đều có được những thói quen và kỹ năng nhất định cùng với những tri thức. Điều quan trọng không chỉ là biết mà còn là thấu hiểu, tự do sử dụng những tri thức và áp dụng chúng. Chỉ có trong trường hợp như vậy thì tri thức mới trở nên sống động chứ không chết cứng. Những thói quen và kỹ năng được hình thành không bằng cách nào khác như thông qua việc thường xuyên luyện tập  dưới sự chỉ đạo của các thày giáo có kinh nghiệm. Do vậy, truyền thống không những là tri thức mà còn là những khuôn mẫu áp dụng nó. Các phương thức giải quyết vấn đề, các cách tiếp cận, các phương pháp, các lối tư duy đa dạng, các mẫu mực xây dựng tác phẩm, phong cách trình bày - tất cả những điều đó quan trọng không kém nội dung của tác phẩm.
Trước hết cần phải nắm bắt các phương thức thấu hiểu những thành tựu văn hóa hiện có - thấu hiểu nghĩa của chúng đối với tôi như một con người cụ thể. Sẽ không thể đạt được điều đó nếu ngay từ đầu đã tự hạn chế mình ở nhiệm vụ nắm bắt thông tin có sẵn, có quan hệ với lĩnh vực chuyên môn. Cần phải học cách lĩnh hội văn hóa như một chỉnh thể, học được cách sống trong văn hóa, đắm mình vào văn hóa. Mối liên hệ mật thiết của tri thức nhân văn với toàn bộ truyền thống văn hóa - nghệ thuật, văn học, đạo đức, pháp luật, các quan điểm thẩm mỹ học, v.v., là đặc điểm đặc trưng cho sự phát triển của các khoa học nhân văn, kể cả ở thời hiện đại.

Như vậy, truyền thống văn hóa nhân văn là điều kiện để nghiên cứu triết học và các khoa học nhân văn vì nó hình thành các phẩm chất và các năng lực mà nếu thiếu thì việc nắm bắt những tư tưởng triết học hóa ra là một nhiệm vụ bất khả thi. Truyền thống văn hóa nhân văn cần phải hiện diện trong tâm hồn như là thể nền cần thiết của triết học: chỉ hiện diện trong lĩnh vực văn hóa nhân văn thì cá nhân mới có khả năng lĩnh hội, thấu hiểu và đồng sáng tạo ra các tư tưởng triết học.  
 ________________________________________________________________ 
   VÀI NÉT VỀ DIỄN GIẢ 

Phó Giáo sư  ĐỖ MINH HỢP  sinh ngày 06/07/1962 tại  Ninh Dân, Thanh Ba, Phú Thọhiện  công tác tại Viện Triết học, VKHXHVNÔng  tốt nghiệp đại học tại Liên Xô (cũ) năm 1987.Học vị: TS. Triết học.  

            SÁCH ĐÃ XUẤT BẢN

01. Quan niệm của Hêghen về bản chất của triết học. Nxb. Chính trị Quốc gia, HN., 1998
02. Vấn đề tư duy trong triết học Hêghen. Nxb. Chính trị Quốc gia, HN., 1999;
03. Quan điểm lịch sử triết học của Hêghen. Nxb. Chính trị Quốc gia, HN., 2001;
04. Triết học pháp quyền của Hêghen. Nxb. Chính trị Quốc gia, HN., 2002;
05. Những vấn đề toàn cầu trong thời đại ngày nay. Nxb. Giáo dục, HN., 2004;
06. Từ điển quản lý xã hội. Nxb. Đại học Tổng hợp, HN., 2004.
07. Lịch sử văn hóa thế giới gồm 2 tập. Nxb. Bách khoa thư, HN., 2005;
08. Đại cương lịch sử triết học phương Tây. Nxb. Đại học Tổng hợp, HCM, 2006;
09. Tôn giáo: lý luận xưa và nay. Nxb. Đại học Tổng hợp, HCM., 2006;
10. Nhập môn tôn giáo học. Nxb. Tôn giáo, HN., 2006;
11. Tôn giáo phương Đông. Nxb. Tôn giáo, HN., 2006;
12. Diện mạo triết học phương Tây hiện đại. Nxb. Hà Nội, HN., 2006;
13. Văn hóa học. Nxb. Giáo dục, HN., 2007.
14. Triết học phương Tây hiện đại. Cuốn 1. Nxb. Đại học Tổng hợp HCM, HCM., 2007;
15. Hiện tượng học Husserl. Nxb. Tôn giáo, HN., 2008.
16. Triết học hiện sinh. Nxb. Tụn giỏo, HN., 2010.
17. Lịch sử triết học đại cương. Nxb. Giáo dục, HN., 2010.
18. Nhập môn triết học. Nxb. Giáo dục, HN., 2010.
19. Chủ nghĩa Mác phương Tây (trường phái Frankfurt). Nxb. Tôn giáo, HN., 2023.
20. Triết học đại cương. Nxb. Đại học Tổng hợp HCM, 2012.
21. Nhân học triết học Freud và ảnh hưởng của nó đến nhân học triết học phương Tây hiện đại. Nxb. Tôn giáo, HN., 2012.
22. Tại sao chúng ta cần phải kiên định chủ nghĩa Mác? Nxb. Chính trị Quốc gia, HN., 2014.
23. Lịch sử triết học phương Tây (gồm 3 tập). Nxb. Chính trị Quốc gia, HN., 2014. 

           TÊN BÀI BÁO CÔNG BỐ TRÊN TẠP CHÍ TRONG NƯỚC

1. Về khái niệm"tự do" trong triết học Hêghen. T/c Triết học, N%1, 2004.
2. Quan điểm nhân học trong triết học Xôcrát. T/c Triết học, N% 8, 2004.
3.  Triết học đạo đức Kitô giáo. T/c Nghiên cứu Tôn giáo, N% 1, 2009.
4. Triết học Mác và nền văn minh công nghiệp. T/c Triết học, N% 6, 2008.
5. Về tính chủ quan trong triết học phương Tây hiện đại. T/c Triết học, N% 1, 1996.
6. Bản thể luận Huxéc với chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm Cantơ. Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế “Triết học cổ điển Đức: Những vấn đề nhận thức luận và đạo đức học”, Hà Nội, 2004.
7. Cách tiếp cận tiên nghiệm với việc phân tích ý thức ở Cantơ và Huxéc. Kỷ yếu Hội thảo khoa học “I.Cantơ - Người sáng lập nền triết học cổ điển Đức”, Hà Nội, 1997.
8. Kinh nghiệm tuyệt đối và hiện tượng học Huxéc. T/c Triết học, N% 1, 1998.
9. Khái niệm “tồn tại” trong chủ nghĩa hiện sinh. T/c Triết học, N% 6, 1998.
10. “Buồn nôn” – tính phi lý của tồn tại. T/c Triết học, N% 1999.
11. Haiđơgơ với vấn đề bản chất của triết học. T/c Triết học, N% 1999.
12. Triết học phương Tây hiện đại: một cái nhìn khái quát. T/c Triết học, N% 1, 2000.
13. Nhân học triết học hiện đại với vấn đề tồn tại người. T/c Triết học, N% 3, 2000.
14. Triết học tôn giáo phương Tây hiện đại. T/c Triết học, N% 3, 2001.
15. Đối tượng của triết học – lịch sử vấn đề. T/c Triết học, N% 1, 2002.
16. Siêu hình học: tồn tại hay không tồn tại? T/c Triết học, N% 7, 2002.
17. Sự hình thành bản thể luận văn hóa. T/c Triết học, N% 1, 2003.
18. Chủ nghĩa hiện sinh nhìn từ góc độ văn hóa học. T/c Triết học, N% 6, 2003.
19. Tính chất duy ngã trong triết học hiện sinh của Kiếccơga. T/c Triết học, N% 2, 1997.
20. Khái niệm sự thông thái – chiếc chìa khóa để đến với quan niệm về triết học Hy Lạp cổ đại. T/c Khoa học Xã hội, N% 7, 2004.
21. Tư tưởng nhân học của C.Mác trong giai đoạn hình thành triết học Mác. T/c Khoa học Xã hội, N% 10, 2004.
22. Suy ngẫm về vai trò của triết học trong bối cảnh toàn cầu hóa. T/c Phát triển nhân lực, N% 5, 2008.
23. Ph.Nítsơ - Người “khuấy đảo” triết học Tây Âu nửa cuối thế kỷ XIX. T/c Triết học, N% 2, 2005.
24. Tư tưởng đạo đức học của Gi.P. Xáctơrơ. T/c Triết học, N% 11, 2005.
25. “Cuộc cách mạng nhân học” trong triết học tôn giáo phương Tây hiện đại. T/c Triết học, N% 8, 2006.
26. Nhìn nhận toàn cầu hóa từ yêu cầu phát triển bền vững. T/c Lý luận chính trị, N% 8, 2006.
27. Tư tưởng đạo đức học của F.Nietzsche. Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế “Những vấn đề triết học phương Tây thế kỷ XX”. Hà Nội, 2006.
28. Tự do và trách nhiệm trong đạo đức học hiện sinh. T/c Triết học, N% 12, 2007.
29. Lý luận hiện đại hóa phương Tây: Sự ra đời, lôgíc tiến hóa và kết cục. T/c Phát triển nhân lực, N% 2, 2008.
30. Quan điểm triết học xã hội của Mác về cá nhân và xã hội và giá trị hiện nay của nó. T/c Phát triển nhân lực, N% 4, 2008.
31. Về phương pháp hiện tượng học của Huxéc. T/c Triết học, N% 5, 1996.
32. Vai trò của triết học Cantơ đối với sự phát triển của triết học. T/c Triết học, N% 1, 1994.
33. Tự do và trách nhiệm cá nhân trong “Tồn tại và hư vô” của J.-P.Sartre. T/c Triết học, N% 3, 2009.
34. Vận mệnh của học thuyết Mác về chủ nghĩa xã hội. T/c Triết học, N% 5, 2010.
35. Đối thoại theo tinh thần khoan dung – nhân tố đảm bảo sự sống còn của loài người. T/c Triết học, N% 6, 2011.
36. Wittgenstein với vấn đề chữa trị “bệnh tâm thần” cho triết học hiện đại. T/c Triết học, N% 10, 2012.
37. Diện mạo triết học giáo dục phương Tây hiện đại. T/c Lý luận chính trị và truyền thông, N% 1, 2013.
38. Vấn đề “Nhân chi sơ tính bản thiện hay tính bản ác trong phân tâm học Freud”. T/c Nghiên cứu con người, 2014, N% 1.
39. Giá trị phương Tây trong bối cảnh hiện đại hóa xã hội ở nước ta hiện nay. T/c Triết học, 2014, N% 10.
40. Đối tượng của triết học chính trị. T/c Phát triển nhân lực xã hội và nhân văn, 2014, N% 12.
41. Sứ mệnh văn hóa của trí thức trong điều kiện nước ta hiện nay. T/c Triết học, 2015, N% 

           SÁCH DỊCH 

1. Lịch sử phép biện chứng. Gồm 5 tập, 6 cuốn. Nxb. Chính trị Quốc gia, HN., 1997.
2. Triết học phương Tây hiện đại (Từ điển). Nxb. Khoa học xã hội, HN,. 1997.
3. 106 nhà thông thái. Nxb. Chính trị Quốc gia, 1997.
4. Triết học mở và xã hội mở. Nxb. Khoa học Xã hội, HN., 2000.
5. Triết học tôn giáo (của Melthomson). Nxb Đại học Tổng hợp, HN., 2000.
6. 120 nhà thông thái (gồm 6 cuốn). Nxb. Đại học Sư phạm Hà Nội, 2014.

Thứ Năm, 26 tháng 3, 2015

Ngô Hương Giang: Nghiên cứu Mai Văn Phấn cho tôi nhiều lợi ích

logochuan 6 Ngày 21/3, buổi ra mắt sách "Mai Văn Phấn và hành trình thơ vào cõi khác" đã diễn ra tại Salon Văn hóa Cafe Thứ bảy, Hà Nội với sự dẫn dắt của nhà lý luận phê bình Phạm Xuân Nguyên.
sach NHG1
Cuốn sách là công trình nghiên cứu của hai nhà lý luận phê bình Ngô Hương Giang và Nguyễn Thanh Tâm. Nghe thì tưởng chừng như là để "quảng bá" cho một cuốn sách cụ thể nhưng sự chú ý còn dành cho cả các nhà phê bình cũng như độc giả quan tâm đến thơ đương đại của Việt Nam.
Tác giả Ngô Hương Giang trước khi bắt đầu viết sách chủ yếu liên lạc với nhà thơ Mai Văn Phấn qua thư điện tử và chỉ gặp tác giả khi cuốn sách xong phần bản thảo. Theo anh: "Tôi viết sách này không phải viết về người nổi tiếng mà viết với sự đồng cảm để làm sao hiểu được thơ Mai Văn Phấn. Từ quan niệm về thơ ca đến cách tổ chức tác phẩm đó là hệ quy chiếu mà người phê bình cần có. Và khi tôi nghiên cứu Mai Văn Phấn, tôi có nhiều lợi ích cho bản thân".
Ngô Hương Giang là một nhà phê bình trẻ thuộc thế hệ 8X. Có lẽ vì trong số những cuộc ra mắt sách gần đây tỉ lệ sách phê bình còn ít (tương ứng với tỉ lệ xuất bản?), nên buổi giới thiệu sách lần này của anh và Nguyễn Thanh Tâm còn mở rộng ra  để những nhà lý luận phê bình, những độc giả quan tâm trao đổi, chia sẻ với nhau về những vấn đề trong nền văn học Việt Nam đương đại.
Tại sao là Mai Văn Phấn?
Mai Văn Phấn sinh năm 1955, tại Kim Sơn, Ninh Bình, hiện sống tại thành phố Hải Phòng.  
Đoạt một số giải thưởng Văn học trong nước.  
Đã xuất bản 21 tác phẩm, trong đó 10 tác phẩm tái bản hoặc tái bản nhiều lần có bổ sung bản Anh ngữ, Pháp ngữ, hoặc Anbani ngữ:
Thơ Mai Văn Phấn được giới thiệu trên các báo, tạp chí các nước: Thụy Điển, New Zealand, Anh quốc, Hoa Kỳ, Canada, Úc, Hàn quốc, Hồng Kông, Indonesia, Thái Lan…
Cả một cuốn sách viết về thơ của một tác giả cụ thể cũng đủ thấy rằng thơ của Mai Văn Phấn «có vấn đề». Bởi nếu nó bình thường, đủ vần điệu và câu chữ thì giống như bao tác giả khác. Nhưng đó là Mai Văn Phấn, người tự dịch và quảng bá thơ mình tới bạn bè quốc tế, thơ được dịch ra 9 thứ tiếng và được trả bản quyền thơ.
Và như Ngô Hương Giang giải thích thì: «Tiếp nối dấu chân của những người “lớn” về tư tưởng và nhân cách ở trên, chúng tôi với một tâm thế quan sát đi sau, muốn thông qua trường hợp cụ thể là Mai Văn Phấn và thơ của anh, thử tìm một lối lý giải theo cách mà các vị thầy, đồng nghiệp đi trước đã làm: Phát triển một khoa nhân học vi mô từ hướng tiếp cận văn hoá và văn học.
Tác phẩm Mai Văn Phấn và Hành trình thơ vào cõi khác ra đời như là kết quả giải đáp những tò mò và khát khao khám phá. Cuốn sách, do vậy, trước hết là cách lý giải về một mẫu hình nhân học cụ thể qua trường hợp Mai Văn Phấn, và sau cùng là tham vọng muốn đi sâu hơn lý giải các mẫu hình nhân học khác trong tương lai gần”.
Bàn về khủng hoảng thơ
Trong không gian của sách và những người «có liên quan» đến phê bình văn học thì vấn đề của thơ Việt được mọi người cùng nhau đề cập.
MVPTheo tác giả Nguyễn Thanh Tâm thì: “Hiện tại, chúng ta có nhiều người làm thơ nhưng ít thi sĩ, nhiều tác phẩm nhưng ít thi phẩm. Khâu biên tập tại các nhà xuất bản gần như bị vô hiệu hóa, có nhiều xuất bản phẩm ra đời, nhưng để tìm một tác phẩm đọc được không nhiều. Như vậy, chúng ta bị khủng hoảng về tiếp nhận mà đầu tư cho thơ là một đầu tư rủi ro bởi không thể định hướng được thẩm mĩ công chúng. Thơ Việt hiện đang khủng hoảng trong: Sáng tác, phân phối, phát hành, tiếp nhận…”.
Cũng theo anh, từ những khủng hoảng đó mà khi gặp Ngô Hương Giang, anh đã tìm được hướng ra cho ý tưởng của mình và thậm chí có những tư duy làm khó độc giả. Để rồi hai tác giả có hẳn một chương để giải quyết điều này và chú giải tới 4 tập thơ của Mai Văn Phấn.
sach NHG
Từ phải qua: tác giả Ngô Hương Giang, nhà LLPB Phạm Xuân Nguyên và tác giả Nguyễn Thanh Tâm
Quan hệ tương tác giữa nhà LLPB và tác phẩm
Đây cũng là chủ đề được bàn đến trong buổi giới thiệu sách, bởi đó chính là cách mà cuốn sách muốn đề cập tới. Về mối quan hệ này, nhà LLPB Văn Giá nói: “Lý luận phê bình có ba mối quan hệ với tác phẩm, đó là hòa giải, đồng hành và thúc đẩy các sáng tác. Và chúng ta đang ở trong môi trường mà LLPB đồng hành cùng các sáng tác. Ở cuốn sách này là một ví dụ”.
Còn nhà văn Tạ Duy Anh chia sẻ: “Tôi đã từng bất chấp tất cả các nhà phê bình bởi tôi có quan niệm là phê bình nói chung là vô dụng. Nhưng dần dần tôi thay đổi suy nghĩ bởi tôi thấy ta đang có nền phê bình đang chiếm lĩnh giới văn học và dần trở thành chủ đạo. Thực ra thì nền văn học lành mạnh là khi có được mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa người sáng tác và phê bình. Những nhận xét chân thành, trung thực sẽ giúp tôn vinh các tác phẩm và có định hướng tốt cho độc giả”.
“Có nhiều cách để diễn giải một hiện tượng thơ và tạo sự hấp dẫn không cần cầu kì. Cách đặt tên sách là “cõi khác” không gây ấn tượng lớn mà lại gợi đích đến trong bối cảnh này. Đặt Mai Văn Phấn trong khủng hoảng thơ đương đại để thấy được nét khác biệt và nỗ lực của Mai Văn Phấn cũng như một số nhà thơ khác trong quá trình thoát khỏi khủng hoảng” - Nhà LLPB Mai Anh Tuấn lại có một góc nhìn khác.

P.V

(Nguồn: http://vannghequandoi.com.vn/Binh-luan-van-nghe/Ngo-Huong-Giang-Nghien-cuu-Mai-Van-Phan-cho-toi-nhieu-loi-ich-6903.html)

Khai sáng, Tiến bộ và Cách mạng: Một phác thảo phê phán triết học về Tính hiện đại

(Trích từ chuyên luận Triết học: Khai sáng và Phê phán 
 Góp phần nghiên cứu tư tưởng Khai sáng và Phê phán lí tính văn hóa, xuất bản Quý I/ 2015)

Ngô Hương Giang

***

Bìa sách chuyên luận.

Việc phê phán Tính hiện đại đã trở thành mối quan tâm của triết học đương thời, nó không chỉ là dấu mốc đáng nhớ mà Alain Touraine([1]) in dấu sự ảnh hưởng của mình trong giới triết học vào năm 1992 với tác phẩm: Phê phán tính hiện đại (Critique de la modernité)([2]), mà nó đã thực sự trở thành đề tài được bàn luận rộng khắp kể từ khi nước Pháp tiến hành cuộc cách mạng vào năm 1789.  Trong ký ức lịch sử tư tưởng của nhân loại, đặc biệt là của thế giới phương Tây, cuộc cách mạng Pháp được ví như là cuộc cách mạng của ánh sáng và tiến bộ, mở ra cho loài người một đời sống tự do và dồi dào của cải vật chất… Thế nhưng, sự kiện ấy cũng đã từng trở thành một vấn nạn lịch sử khi nó vừa mở ra cho chủ nghĩa tư bản mảnh đất phì nhiêu để mặc sức trải nghiệm các dấu ấn lý luận lên hiện thực, để rồi sau đó trở thành đối tượng phản tư nghiêm túc của triết học khi chủ nghĩa tư bản bước vào giai đoạn hậu kỳ với những “khủng hoảng” khó có thể giải quyết từ chính khẩu hiệu: Trí tuệ, tự do và bác ái. Văn hoá phương Tây được quy chiếu từ xã hội tư bản hậu kỳ đọng lại trong tư tưởng nhân loại, giờ đây, như là giai đoạn thống trị của kỹ thuật và công nghệ, nơi mà nghệ thuật và các giá trị nhân văn dường như đang quay trở lại vạch xuất phát với nỗi hoang mang cùng cực trong khi chạy đua cùng với sự tiến bộ và sự tối tân của máy móc. Tính hiện đại, giờ đây đã trở thành một “dự án bất tận” mà con người khó có thể hoàn thành nó trong thực tiễn cũng như luôn bị báo động trong tình trạng tự hoàn thiện – điều mà Jürgen Habermas đã ngụ ý trong một ẩn dụ triết học gửi tới nhân loại khi ông viết Hiện đại – một dự án bất tận([3]).
Cuộc chạy đua giữa Khai sáng, Tiến bộ và Cách mạng giờ đây không còn là câu chuyện mà các triết gia đưa ra các tranh luận về mặt khái niệm, mà đã thực sự trở thành sự thức tỉnh về mặt bản chất của triết học, họ xem Tính hiện đại như là cách thức phản tư mà thời hiện đại đã “khéo” thôn tính về mặt tư tưởng ngay từ khi nó dựng lên ý niệm về một thời đại Tự do, dân chủ và bác ái vào năm 1789. Con người kể từ cái khoảnh khắc của cuộc cách mạng ấy đã “bị đẩy xuống thuyền”([4]) như một định mệnh: Xem Khai sáng, tiến bộ và cách mạng như là các phương thức “lý tưởng” để nhằm thực hiện mục đích “Tự do, bình đẳng và bác ái”, mà không hay biết rằng, chính cái khẩu hiệu đó đã đẩy con người vào tình trạng mất tự do, bất bình đẳng và đơn độc([5]). Về điều này, hẳn rằng không có nơi nào trong thế giới “văn hoá toàn cầu” lại có thể trả lời một cách đầy đủ và sâu sắc bằng chính những con người đang được hưởng “thành quả” cuộc sống từ cuộc cách mạng “Khai sáng” Pháp, Đức, Anh cũng như các quốc gia chịu ảnh hưởng từ nó như Mỹ, Canada, ÚC…
Con người đã viện dẫn khẩu hiệu đó để khai thác triệt để sức mạnh của tinh thần khai sáng, đặt lý trí vào cuộc chạy đua khắc nghiệt để vươn tới những giá trị tiến bộ thông qua các bước ngoặt căn bản của công nghệ và kỹ thuật, xem sự thay thế của máy móc với các cấp độ tối tân khác nhau như là kết quả hoàn tất đầy vinh quang của “ánh sáng cách mạng”. Từ “cách mạng” ở đây không chỉ hướng đến một sự thay thế triệt để thực tại, mà còn hướng tới một sự thay thế toàn diện các phương thức sản xuất nhằm diễn giải sự hợp lý của cái “chung cuộc lịch sử” được con người “dựng lên” đầy mơ mộng về một “thiên đường” Tự do – Bình Đẳng và Bác ái. Thế nhưng, cái thiên đường ấy sẽ chẳng bao giờ thành tựu được sức mạnh thực tế của nó trong hiện thực, bởi vì con người càng đấu tranh gay gắt, càng tiến hành các hành động trí tuệ để đạt cho được tiến bộ và cách mạng thì con người càng bị đẩy vào một “giấc mộng bi kịch” mà không thể nào thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn của sự mất tự do – bất bình đẳng và cô đơn.
Ngày nay, khi sự dồi dào của của cải các quốc gia, sự lớn mạnh của công nghệ và kỹ thuật đã chứng minh khoảng cách lệ thuộc của con người vào các sản phẩm do chính mình tạo ra ngày càng lớn. Tình trạng nô lệ của con người vào công nghệ thông tin, công nghệ dược phẩm và công nghệ sinh học; đồng thời sự lớn mạnh của của cải vật chất đã đẩy con người vào tình trạng bất bình đẳng nghiêm trọng, khoảng cách giàu nghèo gia tăng: Người giàu thì cứ giàu lên, còn người nghèo lại cứ nghèo đi; thân phận làm thuê về mặt trí tuệ bị các nhà tài phiệt “bóc lột” đến tận cùng nhằm mục đích nới rộng khoảng cách đẳng cấp trong xã hội([6])…, đó là tất cả những gì mà con người hiện thời phải gánh chịu cho cơn cuồng nộ từ lý tính tiến bộ được truyền thống cách mạng “khai mở” trong xã hội “công nghiệp” suốt từ thế kỷ 19 cho đến nay.
Con người đã tự khu mình vào vỏ ốc của cô đơn và lạc lõng trong thế giới tối tân của máy móc và công nghệ. Văn hoá cộng đồng đã trở thành “giấc mơ dĩ vãng” đối với con người, khi nó bị phá vỡ bởi không gian văn hoá ảo của đời sống số hoá Internet. Con người ngày càng nhận ra sự lạc lõng của mình trước những “cá thể” bằng xương bằng thịt, lời nói yêu thương đã trở thành âm thanh đơn độc, bị công nghệ hút sâu vào các trò giải trí và thế giới văn hoá ảo giác. Chiếc máy tính đã làm cho con người hưng phấn về mặt tinh thần, hấp dẫn sự tò mò bao nhiêu thì cũng chính nó đang thâu tóm con người vào vòng vô cảm, và phi lý bấy nhiêu. Con người ngày càng trở nên “lão hoá về tinh thần” trong một đối nghịch về mức độ gia tăng tuổi thọ nhờ vào sự lớn mạnh của y khoa, giống như một cái cây bị mục rễ và thiếu sức sống từ bên trong, đối lập với cái vỏ óng ánh đến loá mắt bên ngoài. Tỉ lệ người già vào trại giưỡng lão tăng lên, tình trạng ly hôn và nạo phá thai đã trở thành nguyên tắc sống của con người trong một xã hội tự do và bình đẳng; cơn cuồng nộ của bản năng xâm hại([7]) được hiện thực hoá đến mức tối đa trong các cuộc hành quyết giữa người với người và giữa cuộc chiến của những kẻ khủng bố máu lạnh([8]) đối với chính các quốc gia tự cho mình cái quyền canh giữ “thiên đường tự do”([9]). Đó là tất cả những gì mà thế giới phương Tây đang phải trả giá cho cái khẩu hiệu mà họ dựng lên từ năm 1789, để rồi chính họ giờ lại tự đẩy mình vào tình trạng “vị thành niên” của cách mạng. Một vấn đề được đặt ra là: Phải chăng chính những “nhà” khai sáng đang ra sức giao giảng ý niệm về mục đích tiến bộ và cách mạng của công cuộc khai sáng ở phương Tây lại không nhận ra rằng, chính bản thân mình đang phải chịu cảnh “sa lầy” vào tình trạng “vị thành niên kỹ thuật”?
 Hẳn rằng, những bộ óc vĩ đại như Immanuel Kant, Jean-Jacques Rousseau, Montesquieu, Max Horkheimer, Theodor W. Adorno, Jürgen Habermas, Walter Benjamin không thể nào lại “lạc quan” và “ngây thơ” đến mức không nhận ra cái chung cuộc lịch sử mà nhân loại đã và đang trải qua suốt từ thế kỷ 17 cho đến nay. Những dấu ấn “cách mạng khoa học”, như: thảm hoạ hạt nhân và công nghệ đã trở thành nỗi ám ảnh của toàn bộ nhân loại. Vấn đề khiến họ bị “sa lầy” vào lý luận của chính mình, theo chúng tôi không phải nằm ở tính đúng/sai, đầy đủ/ khiếm khuyết trong khi lý luận, mà là ở cái “gia tốc” thực tiễn đã đẩy lý luận của họ vào những ngõ cụt của hy vọng. Thực tiễn chính là đáp án không hẳn khi nào cũng đồng nhất với các định đề lý luận (logic) mà các nhà Khai sáng đã tính đến. Nó có thể đi đúng các nguyên tắc lý luận, nhưng nó cũng có thể chống lại lý luận. Bài học lịch sử đắt giá nhất mà loài người đã trải qua ở thế kỷ 19 và 20 chính là cái thực tiễn mà chủ nghĩa phát xít (fascism) nhân danh chủ thể siêu nhân mà Nietzsche([10]) đã dày công lý luận như là lý tưởng cốt lõi trong triết học của ông; và những cảnh báo mà vua hề Charles Chaplin đã đặt ra cho nghệ thuật nhân loại những năm đầu thế kỷ 20([11]) chính là minh chứng cho “sự phản bội” của thực tiễn gây nên đối với chính lý luận tiến bộ - cách mạng của con người.
Giờ đây, khi mà nhân loại đang chìm trong cơn mộng mị của thời hiện đại, thì không một nhà giải mộng nào có thể đánh thức họ chạy ra khỏi giấc mơ của tự do, bình đẳng và bác ái được xây dựng bởi lý trí khai sáng, vụt biến thành cơn bão táp của khoa học và công nghệ. Con người đang tiếp tục cuộc chạy đua khốc liệt nhằm sản sinh tri thức trong một thiên đường mộng mị, mà các giá trị hiện đại đã gieo vào nó tập quán hy vọng; nhân loại không thể nhận ra rằng, trong cuộc chạy đua ấy dẫu con người đã đạt được thành tựu lớn lao như thế nào thì họ vẫn chỉ là những kết quả được sản sinh từ một “giấc mơ Hiện đại tính”. Và phải chờ đến giữa thế kỷ 20, E. Fromm mới chính  thức tuyên chiến chống lại nó khi ông viết Trốn thoát tự do([12]). Với E. Fromm một sự công khai tuyên chiến với tự do, đồng nghĩa với việc ông công khai tuyên chiến chống lại sự tiến bộ, cách mạng và tính hiện đại, đặt ý thức khai sáng vượt thoát khỏi lý trí hiện đại([13]), để trở thành lý trí hậu hiện đại([14]) giải thoát con người ra khỏi tình trạng “vị thành niên” do cuộc cách mạng cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 gây ra.
Tính hiện đại đã trở thành phẩm chất của thời hiện đại (Modernity) và là trung tâm lý luận của chủ nghĩa hiện đại (Modernism). Nó ôm phủ và bao trùm các giá trị thuộc về tự do, dân chủ và đoàn kết xã hội, là lý tưởng mà các cuộc cách mạng xã hội vin vào nhằm đạt được mục đích lớn lao về mặt chính trị. Vì là lý tưởng, cho nên hiển nhiên nó luôn là một giấc mơ mà con người khao khát hướng đến và là “thiên đường” của ý thức xã hội. Sẽ chẳng có gì để bàn thảo, nếu như ngay từ lúc giai cấp Tư sản Pháp dựng ngọn cờ độc lập không bộc lộ những vấn nạn đẩy lịch sử nhân loại vào ngõ hẹp của huỷ diệt và bị kịch. Nước Pháp, mà đúng ra là giới chính khách Pháp đã xem “khai sáng” như là công cụ để kiện toàn ý niệm “Khai phóng” đối với những quốc gia có cùng ý hướng xã hội, hướng đến thiết lập một xã hội “đồng minh” mà giai cấp tư sản nắm quyền lãnh đạo thế giới. Có thể nói, đó là một tư tưởng hoàn toàn tiến bộ, nếu như loài người không nhìn vào thực tiễn mà họ đã làm, mà chỉ nhắm mắt và lắng nghe những lý luận mà họ thuyết giảng. Và cũng sẽ chẳng có gì đáng quan tâm đến các giá trị mà thuộc tính hiện đại đã vẽ ra giấc mơ thiên đường cho con người, nếu như con người không phải trải qua hai cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai. Dẫu thế nào, dù bên thắng cuộc hay bên thua cuộc đã từng được lịch sử thế giới in hằn vào ý thức loài người, thì sự thắng lợi hay thất bại ấy cũng chỉ gói gọn trong sự “tuyên chiến lẫn nhau” của giới tư sản và chủ nghĩa Tư Bản. Nước Pháp là ngọn cờ đầu tiên cho cuộc cách mạng tiến bộ mà nhân loại gọi là cách mạng khai sáng, thế nhưng cũng chính họ lại trở thành tiên phong của chủ nghĩa thực dân, dẫn đầu phong trào xuyên tạc ý niệm khai sáng để trở thành một nhà nước bảo hộ, nhằm thực hiện mục đích “khai hoá”([15]) đối với các quốc gia khác.
Cũng thật khó có thể bác bỏ được lý luận khai sáng của Pháp nếu như loài người không nhìn vào thực tiễn “thay trắng đổi đen” của nhà nước bảo hộ Pháp khi ngả vào phe đồng minh để chống lại phát xít Nhật năm 1945. Và ngày nay, con người cũng chẳng có gì phải nghi ngờ về “ý niệm tự do, bình đẳng và bác ái” của nước Mỹ, nếu như cả thế giới không biết đến thực tiễn quá khứ huỷ diệt bằng bom nguyên tử lên đầu nhân dân Nhật Bản và nhân danh tự do để tham chiến ở Iraq, Afghanistan, gần đây là Sryia. Và giờ đây khi khẩu hiệu thuộc về phẩm chất thời hiện đại ấy đã trở thành ý niệm đại diện cho mọi hoạt động tham chiến của Mỹ, thì việc có một tổ chứ ISIS([16]) vươn lên nắm vị trí số 1 trong cuộc chiến chống lại “Tự do – Bình đẳng và Bác ái”, nhằm viết lại lịch sử khai sáng, tiến bộ và cách mạng là điều không có gì lấy làm khó hiểu. Đứng ở góc độ sử tính thì chẳng ai có thể bác bỏ lý luận của nhóm ISIS, vì nội bộ những kẻ tham dự tổ chức ấy hiển nhiên có ý niệm cá biệt về “Tự do – Bình đẳng và bác ái” đại diện cho “tinh thần” Khai sáng, Tiến bộ và Cách mạng mang “màu sắc” HỒI GIÁO. Vậy thì, Tính hiện đại với các giá trị kèm theo của nó, hẳn rằng, cần phải được đánh giá lại với thái độ phê phán triệt để.
Ngay từ khởi thuỷ của ý thức khai sáng, chủ thể khai sáng thường bao hàm trong quá trình “thoát li khỏi tình trạng vị thành niên” một ý niệm tiến bộ. Ý niệm tiến bộ như là ý thức hướng tới mục đích cao cả nhằm đoạn tuyệt tư tưởng ấu trĩ do “sự hèn nhát” trước đó gây ra, vì vậy về bản chất, tinh thần khai sáng thường được đồng quy tại một điểm với ý niệm tiến bộ. Một sự nhận ra tình trạng “ấu trĩ” về tư tưởng luôn là một động thái tiến bộ, trước hết là đối với chính chủ thể, và sau đó là đối với quần chúng – đối tượng mà chủ thể thực hành ý thức tiến bộ lên những cá nhân và cộng đồng bên ngoài. Tuy nhiên, ý niệm tiến bộ tự thân nó lại có hướng tách ra khỏi thái độ khai sáng để nhằm hiện thực hoá đời sống theo cách thức mà nó tiến hành, thông qua hành động cách mạng xã hội([17]) hoặc cách mạng khoa học[18]. Khi có sự hậu thuẫn của những tác nhân khách quan nhằm thực hiện một sự thay đổi triệt để về mặt thực tiễn theo sự chỉ dẫn của ý niệm tiến bộ, thì khi đó loài người sẽ bước vào “gian phòng riêng” mà ý niệm ấy sắp đặt, theo hai hướng: Bị động hoặc chủ động.
Những cuộc cách mạng xã hội đa phần là đặt con người vào tình huống bị động trước ánh sáng của “ý niệm tiến bộ”; sự chủ động của con người trong cuộc cách mạng ấy thường thuộc về lớp “tinh hoa” nắm quyền lãnh đạo cách mạng hoặc thuộc về cá nhân sản sinh lý luận nhằm cụ thể hoá ý niệm ấy trong đời sống khách quan. Trong khi đó, Quần chúng trong các cuộc cách mạng xã hội, đa phần là những lớp người bị động, hoặc trở thành “người học trò trung thành” của “lớp tinh hoa”, lãnh đạo lớp người ấy hướng đến cái đích “tiến bộ” với những khẩu hiệu mang màu sắc đặc trưng của cuộc cách mạng do họ cầm đầu. Vì vậy, ý niệm tiến bộ mang màu sắc chính trị và sự thực hành ý niệm tiến bộ của các cuộc cách mạng xã hội thường không vững chắc. Nó luôn có nguy cơ bị thay thế hoặc bị quy kết vào tình trạng phản tiến bộ (lạc hậu) hoặc phản cách mạng, khi có một ý niệm chính trị tiến bộ mới ra đời, được sự ủng hộ của những lớp quần chúng mới có hướng thay thế ý niệm chính trị “tiến bộ” cũ. Sự thay thế đó không chỉ đơn thuần là sự bác bỏ lẫn nhau của các ý niệm tiến bộ được chủ thể khai sáng, mà còn phản ánh bản chất dễ suy yếu và đổi thay của hoạt động ý thức xã hội.
Dường như có vẻ đối lập với ý niệm tiến bộ của các cuộc cách mạng xã hội, các cuộc cách mạng khoa học đã tìm cách đưa ý niệm tiến bộ thống nhất với hoạt động khai sáng hơn: Hướng đến một thế giới mà lý trí được tự do tuyệt đối và phủ bóng ảnh hưởng của nó trong mọi ngõ ngách đời sống. Chủ thể của các cuộc cách mạng khoa học thường là những cá nhân chủ động về lý trí, hướng ý niệm tiến bộ của trí tuệ đến một sự cải tạo khách quan triệt để sau khi trải qua quá trình phê phán đối với tàn dư của trí tuệ cũ. Các cuộc cách mạng khoa học ra đời đã hiện thực hoá những ý niệm tiến bộ, đem lại công năng thúc đẩy một đời sống phát triển toàn diện. Trong thế giới của cuộc cách mạng đó, người ta sẽ thấy dường như chẳng có “lớp học trò ưu tú” nào có thể kiên trì triệt để được đối với các thuộc tính của tri thức khách quan; mà tất cả họ, trong ý thức tự chủ nhất thường là những người lãnh đạo cách mạng tri thức gần như tuyệt đối.
Cuộc chiến về mặt trí tuệ chống lại thói bảo thủ cùng những lý luận thiếu vững chắc của các lý thuyết gia đã là nền tảng kéo ý thức khai sáng không ngừng vận động cùng một lúc với sự khai phóng các ý niệm tiến bộ. Theo cách thức ấy, các cuộc cách mạng về khoa học không ngừng được báo trước trong một viễn cảnh có thể kiểm soát được về mặt lý tính. Ngày hôm nay, khi một triết gia đã lên tiếng chống lại các thước đo chuẩn mực của triết học truyền thống với một thái độ phê phán không thương tiếc quá khứ như Foucault, góp phần minh định các giá trị tiến bộ phù hợp với bối cảnh hiện đại của ý thức khai sáng, thì ngày mai, rất có thể sự tiến bộ mà ông đã đặt ra trong triết thuyết của mình sẽ bị phê phán bởi một triết gia khác. Và sau mỗi lần phê phán ấy, thế giới lại bước vào một cuộc cách mạng tri thức mới. Nó cho thấy tính chất luôn đổi thay của ý niệm tiến bộ khoa họccủa các cuộc cách mạng khoa học.
Sự bất thuận giữa các cuộc cách mạng xã hội và các cuộc cách mạng khoa học, cho thấy tính chất không vững bền của ý niệm tiến bộ và hành động cách mạng so với ý thức khai sáng. Cũng giống như Jean Paul Sartre hay các nhà hư vô chủ nghĩa, tiến bộ và cách mạng sẽ chẳng bao giờ thành tựu được chân lý tuyệt đối cũng như chẳng thể có được sự ảnh hưởng phổ quát của nó lên hiện thực, bởi vì, người ta chẳng thể nào tìm ra cơ sở để biến các ý niệm gọi là “tiến bộ” cũng như các hành động gọi là “cách mạng” trở thành một thứ chân lý vĩnh cửu cho tồn tại khách quan. Khai sáng, tự bản thân nó vừa bao hàm ý niệm tiến bộ và tinh thần cách mạng; đồng thời, Khai sáng và Tiến bộ cũng cùng nhau vận động, phát triển biện chứng theo vòng tròn xoáy ốc, mà ở đó, Khai sáng ở giai đoạn sau gặp gỡ Khai sáng ở giai đoạn trước tại cùng một điểm theo các cấp độ ngày càng cao hơn mỗi khi vai trò của Tiến bộ bị thoái trào. Khai sáng, vì thế là một thuộc tính trung hoà trong các hoạt động ý thức của chủ thể.
Con người hiện thời dễ bằng lòng với sự tiến bộ của kỹ thuật và công nghệ, cũng như dễ bằng lòng với sự phát triển không ngừng của ý niệm “tự do” và “lý tính”. Nhưng bản thân “cái hiện thời” (the presence) ấy cũng đã từng phải trải qua những khoảnh khắc bị quy kết và phê phán đối với “những cái đã qua”, mà “tự cái đã qua” trong hoàn cảnh ban đầu của nó đã từng là cái tiến bộ. Chiếc điện thoại thông minh hay công nghệ lai ghép hữu cơ của ngành sinh học được con người hiện thời (cái khoảnh khắc đương đại) xem như là sự tiến bộ của cách mạng khoa học, thế nhưng, để có cái tiến bộ hiện thời ấy, lịch sử loài người đã phải từng thử nghiệm với vô số những chiếc điện thoại dây, thô sơ thời cổ điển, cũng như đã từng phải thực hiện vô số những ca ghép vô cơ đơn giản trên thân cây. Ai đó có thể rất dễ dàng trong việc chỉ ra cái lỗi thời của chiếc điện thoại dây cũng như kỹ thuật cấy ghép trên thân cây trong quá khứ so với chiếc điện thoại thông minh và công nghệ nhân bản vô tính hiện thời, nhưng với lịch sử, cái quá khứ của sự ra đời chiếc điện thoại dây và kỹ thuật ghép thô sơ trên thân cây, thoạt tiên nó luôn là một ý niệm tiến bộ và là một bước ngoặt của “công nghệ” thuộc thế kỷ 18 – 19.
Cái tiến bộ hiện thời, do đó, không thể được xem như là cái đích so với “cái tiến bộ” đã qua trong quá khứ, mà nó là một quá trình phát triển của ý thức Khai sáng, phản ánh bản chất vận động biện chứng không ngừng của trí tuệ. Nếu ai đó, ngày nay có quan niệm về sự bất tương xứng hay độ kênh về lịch sử giữa ý niệm tiến bộ và cách mạng khoa học, thì hiển nhiên, họ đã vấp vào vòng xoáy vô hình của cái bẫy TIẾN BỘ. Cuộc tranh cãi giữa những người theo chủ nghĩa xã hội và những người theo chủ nghĩa tư bản về vai trò của ý niệm tiến bộ trong cách cuộc cách mạng xã hội, cho thấy tính chất Phản- Khai sáng của quá trình phê phán lẫn nhau. Các nhà cách mạng xã hội dù ở cực Tư bản chủ nghĩa hay Xã hội chủ nghĩa sẽ chẳng thể nào tìm ra một chung cuộc cho lịch sử, nếu như họ chỉ dựa vào ý niệm tiến bộ để công kích nhau, mà chẳng thể hướng con người đến một sự thống nhất chung về cách thức giải quyết tồn tại xã hội. Dẫu loài người có bằng lòng với lý thuyết của Karl Marx như một thứ quyết định luận lịch sử với năm dạng thức của Hình thái kinh tế - xã hội, hay kiên quyết phủ nhận năm dạng thức ấy để tiến tới xác lập thế giới theo kiểu một dạng thức Hình thái kinh tế - xã hội, hay hai dạng thức Hình thái kinh tế - xã hội, thậm chí là “N” dạng thức Hình thái kinh tế - xã hội…đi nữa, thì các dạng thức ấy, chung quy cũng chỉ là các “diễn ngôn” triết học hoặc chính trị khác nhau về cùng một dạng tồn tại xã hội duy nhất là: Thực tiễn khách quan từ khởi thuỷ thế giới cho tới thời hiện đại.
Điều này cho thấy rằng, con người chẳng có cơ sở vững chắc nào để kết luận về các cuộc cách mạng xã hội cụ thể là tiến bộ duy nhất. Sự hoài nghi của những nhà triết học về các cuộc cách mạng xã hội cũng chẳng khác gì so với sự hoài nghi về nguồn gốc của con người là do Chúa tạo ra hay do tự nhiên mà có? Tất cả sự hoài nghi ấy dường như đều có căn nguyên chung là từ chính các ý niệm tiến bộ qua các thời đại xã hội đã bị “giới tinh hoa” tự cho mình cái quyền tuyệt đối hoá nó với chân lý khách quan của đời sống con người. Điều này phản ánh sự thật khách quan, tự cái ý niệm tiến bộ luôn dự báo trong nó về tính chất phản- tiến bộ, một khi ý niệm “tiến bộ mới” ra đời và thay thế nó. Vậy thì ý niệm tiến bộ, giờ đây chỉ còn là ý nghĩa của các giá trị được con người phát minh thông qua lý tính phù hợp với tính chất, trình độ, cũng như nhu cầu của hiện thực mà Marx đã nói, chứ nó không phải là một thứ chân lý tuyệt đối. Điều này cũng tương ứng với ý niệm tiến bộ là các cuộc cách mạng xã hội mà con người tạo ra nhằm hiện thực hoá ý niệm tiến bộ xã hội, không bao giờ là một thứ chân lý vĩnh cửu. Nó luôn có nguy cơ bị đẩy lùi vào tình trạng phản tiến bộ hoặc bị “di trú” vào tình trạng “vị thành niên” của ý thức xã hội, cũng như mấp mé trên bờ phản-cách mạng, nếu như chủ thể của ý niệm tiến bộ không thực hiện tiếp ý thức Khai sáng phù hợp với thực tiễn khách quan ở các giai đoạn sau. Vì vậy có thể nói, Khai sáng đã ôm trọn trong nó các nguy cơ của khả năng tiến bộ và lạc hậu, của cách mạng và phản cách mạng, của tình trạng vị thành niên và sự trưởng thành. Tự thân khai sáng đã thực hiện nghiêm ngặt các thước đo của một dạng biện chứng pháp giữa các mặt đối lập trong cùng một thực thể. Nó là quá trình mà chủ thể không ngừng đấu tranh với các ý niệm tiến bộ vừa được sản sinhcái nguy cơ lạc hậu của chính ý niệm tiến bộ ấy sẽ đến trong một tương lai kế tiếp.
Các vấn nạn mà Tính hiện đại đặt ra không chỉ duy nhất thuộc về thời hiện đại, mà dường như nó là ý niệm phổ quát thuộc về mọi thời đại. Khẩu hiệu “Tự do – Bình Đẳng – Bác ái” dường như gắn liền làm một với ý niệm về Tính hiện đại. Nếu có khác biệt chăng, thì sự khác biệt ấy cũng nằm ở quá trình hợp thức hoá các ý niệm tính hiện đại tương ứng với nhu cầu thực tiễn khách quan ở từng thời đại đặt ra cho nó. Một nhà sử học có thể bác bỏ logic trên bằng các cứ liệu lịch sử có từ thời nhà nước Bộ lạc - Thị tộc hoặc Phong Kiến…Nhưng ngay cả khi họ đưa ra các kiểu nhà nước tương ứng với các Hình thái kinh tế - xã hội như Marx nói, thì cũng không thể nào bác bỏ được logic hiển nhiên rằng: Trong các hình thái nhà nước hoặc xã hội cổ xưa ấy luôn có chỗ cho sự Tự do – Bình đẳng – Bác ái tồn tại theo ý hướng riêng của Con Người thuộc giai đoạn đó. Sẽ chẳng ai có quyền yêu cầu một tín đồ Cơ Đốc ở giai đoạn Trung Đại phải chấm dứt việc thờ Chúa, cũng như phủ nhận vai trò “tự do” khi ở bên Chúa, vì ở ngay trong chính căn nguyên cội rễ của ý thức “tiến bộ” thời điểm anh ta sống, tự Chúa đã là biểu tượng của Tự do, Bình đẳng và Bác ái. Cũng như thế, ở thời điểm Phật sống cùng các giáo lý của ông đã thúc giục người dân ở xứ Ca Tỳ La Vệ (Kapilvastu) hướng tới một ý niệm tiến bộ: “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” mang màu sắc văn hoá riêng của xứ Nepal và của khu vực phương Đông. Điều này cho thấy, đâu phải đến thời hiện đại mới xuất hiện tính hiện đại hoặc mới có chủ trương phải giải phóng con người, hướng con người đến một xã hội “Tự do – Bình đẳng – bác ái”? Hiển nhiên, nếu đứng dưới góc nhìn Khai sáng, thì Tính hiện đại dường như được hiểu giống như các thuộc tính của Tiến bộ. Phải chăng có một mối quan hệ giữa tính hiện đại với thuộc tính siêu nghiệm hoặc phổ quát nào đó ở đây?
Jürgen Habermas có lý khi đã kéo dài cái “dự án hiện đại” này tới cấp độ cực đại của ý niệm phổ quát, bao trùm mọi con đường của lịch sử. Và hơn hết, với ông, Hiện đại tính luôn là một dự án dang dở, nó sẽ còn rong ruổi mãi trên con đường bồi đắp những khiếm khuyết của ý thức xã hội theo thời gian, cho tới khi nào nhân loại ngừng thở, thời gian ngừng trôi, và lịch sử đi đến chung cuộc. Còn Walter Benjamin thì hài hước và có phần thi vị hơn khi ông xem tự thân “Thương xá” đã nói lên cái lịch sử kinh doanh từ khi con người biết làm quen với buôn bán, và kéo dài tới khi nào chuỗi lịch sử kinh tế bị cáo chung. Điều ấy cũng tương tự như khi con người ở các quốc gia khác nhau phát âm, đọc các ký tự ngôn ngữ khác nhau xuất phát từ một hướng hiểu chung về ý nghĩa của các từ mà họ dùng để đọc, viết hay nói([19]).
Chúng ta sẽ nhận ra trong cách nói thi vị của Benjamin hay lối phê phán triết học chặt chẽ của Habermas một thuộc tính gì đó nằm trọn vẹn về khái niệm Tính hiện đại, như thể là các cách nói khác nhau về cùng một ý hướng làm cho cái Tiến bộ trở nên hoàn hảo qua mỗi chặng đường lịch sử. Và tinh thần mà cái Tiến bộ luôn hướng đến, đó là, đảm bảo về một loại cảm giác ưu trội của lý tính giữa các giai đoạn, thời kỳ mà chủ thể khai sáng tự giải phóng mình. Ngày nay con người dễ dàng cho mình cái quyền phát ngôn như một cá nhân tự do trên mạng xã hội hay quyền được đối thoại với bất cứ cá nhân nào, không phân biệt đẳng cấp, địa vị, giới tính…, thế nhưng dường như cái quyền của con người hiện đại ấy chẳng khác xa bao nhiêu so với ý hướng mà con người trong quá khứ tiến hành để triển khai ý niệm về tự do; nếu có khác nhau ở đây, thì sự khác nhau đó chỉ là sự khác nhau trong các diễn ngôn và trong kỹ thuật ngôn thoại. Sự vận động lịch sử, giờ đây, đúng như cách nói của Foucault chỉ là sự thay thế lẫn nhau của các diễn ngôn về cùng một ý niệm, hoặc như cách nói của Benjamin trong tiểu luận Nhiệm vụ của dịch giả sự “chuyển dịch” khác nhau của các Hình thái từ của cùng một ý nghĩa mà nó bao hàm.
Ở đây, dường như có điều gì đó đã làm cho ý nghĩa của từ Tiến bộ bị thâu tóm vào vòng phi lý của Tính hiện đại, khiến nó bị sa lầy vào sự khủng hoảng trong các cách diễn đạt của triết học. Phải chăng Tính hiện đại đã trở thành tấm gương về mặt trí tuệ để những cái tiến bộ soi mình vào đó nhằm thay thế lẫn nhau? Và phải chăng chúng ta đang tự soi mình trong các ký ức về Khai sáng? Mỗi giai đoạn khác nhau của nhận thức là mỗi giai đoạn mà con người tự soi mình trước “bóng ma hiện đại tính” nằm sâu trong tâm hồn, để rồi sau mỗi lần soi chiếu ấy, con người biết mình cần phải điểm xuyết các chức năng thời đại nào để đem đến cảm giác được là người tiến bộ. Nếu quả đúng như vậy, thì, khai sáng xem ra gắn liền làm một với thuộc tính phê phán, giúp con người đối diện với “hình bóng” quá khứ của mình trong tấm gương phản ánh tính hiện đại với những truy vấn dường như chống lại sự chặt chẽ của triết học, rằng: Điều gì đã làm cho con người hôm nay khác biệt so với “hình ảnh” của con người ngày hôm qua; triết học lấy gì để đảm bảo rằng, “con người hôm nay” sẽ tốt đẹp hơn con người của ngày hôm qua?
Sự truy vấn ấy đã kéo triết học vào sự luẩn quẩn của thuyết hư vô, mãi đuổi bắt theo sự hoài nghi không bao giờ dứt. Trong khi đó, cái mà con người cần đạt đến một sự giải phóng về mặt ý niệm giữa con người hôm nay và con người hôm qua không phải nằm ở cảm giác tiến bộ về mặt thời gian, mà chính là nằm ở sự phê phán nhằm đưa đến bác bỏ hình ảnh ghì néo cái hiện thời với cái quá khứ. Nhân loại muốn thoát khỏi sự luẩn quẩn giữa tiến bộ và lạc hậu (dã man) về mặt lịch sử, xem ra cần phải đả phá ngay cái ý niệm phổ quát của Tính hiện đại để bắt đầu một nền móng mới. Và Khai sáng chính là cách để con người bắt đầu một sự thanh tẩy các ý niệm phổ quát, hay nói như Jean-François Lyotard là đả phá các Đại tự sự nằm sâu trong căn tính của suy tư, thông qua và bằng hành động phê phán.
Thái độ phê phán trong khi khai sáng của chủ thể cá biệt và sau đó hướng tới hành động khai phóng ý thức xã hội sẽ đưa tính hiện đại vào trạng thái luôn phải bắt đầu tại điểm xuất phát của lịch sử. Sẽ không còn tồn tại ý niệm về tính hiện đại theo nghĩa phổ quát và siêu nghiệm, mà chỉ còn những cách thức do con người đương thời sử dụng nhằm gia cố các ý niệm tiến bộ trong dòng chảy lịch sử của tính hiện đại được truyền thống tư tưởng nhân loại tạo ra như là thước đo của sự sản sinh lý tính dồi dào.
Khai sáng cũng đặt tính hiện đại vào trạng thái không ngừng vận động với thời đại, để thích nghi với ý thức xã hội hiện thời mà con người đặt ra như một mưu cầu cần được đáp ứng. Đồng thời, tính hiện đại trong sự phát triển của nó cũng kèm theo những giá trị tích cực từ truyền thống văn hoá, truyền thống tri thức, góp phần tác động ngược trở lại quá trình khai sáng của chủ thể. Khai sáng theo nghĩa hiện thời xem ra cần được hiểu như là quá trình phát hiện “sự nương nhờ” của trí tuệ vào “quá khứ tư tưởng”, là quá trình con người “nhận ra” tình trạng “vị thành niên” của mình, để từ đó có những lựa chọn giải phóng một cách tích cực.
Ý hướng tìm đường giải phóng ấy của chủ thể bị chi phối từ tập quán truyền thống tư tưởng về tính hiện đại sẽ thúc đẩy cái tiến bộ tích cực ra đời. Sự khai sinh của cái tiến bộ mới không chỉ là kết quả của Khai sáng, mà còn là kết quả của lịch sử và là hành trình vận động không ngừng của tính hiện đại. Chính vì sự tác động biện chứng giữa Tính hiện đại và Khai sáng lên sự Tiến bộ, cho nên tự thân cái Tiến bộ sẽ chẳng bao giờ thành tựu được chân lý tuyệt đối. Và bản thân cái Tiến bộ sẽ có nguy cơ biến thành cái Lạc hậu khi nhu cầu thời đại thay đổi. Đến khi đó, Khai sáng lại tiếp tục khẳng định vai trò của nó trong việc sản sinh ra cái tiến bộ mới nhằm thay thế cái tiến bộ cũ đã biến chuyển trở thành lạc hậu.




Chú thích:

[1] Alain Touraine, Triết gia, nhà xã hội học Pháp. Ông là cha đẻ của thuật ngữ “xã hội hậu-công nghiệp”(société post-industrielle), và là tác giả của những tác phẩm nổi tiếng: “The Post-Industrial Society. Tomorrow's Social History: Classes, Conflicts and Culture in the Programmed Society” (1971)(“Xã hội Hậu-công nghiệp: Lịch sử xã hội ngày mai: Giai cấp, xung đột và văn hoá trong xã hội chương trình”); “The Self-Production of Society” (1977) (“Sự tự sản xuất của xã hội”); “New Paradigm for Understanding Today's World” (2007) (“Hệ hình mới cho sự hiểu Thế giới ngày nay”)…
[2] Tác phẩm Phê phán tính hiện đại (Critique de la modernité) là tác phẩm quan trọng của Alain Touraine, góp phần làm nên tên tuổi của ông. Tác phẩm được xuất bản lần đầu vào năm 1995, sau đó được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Tác phẩm là công trình nghiên cứu tổng quan về quá trình hình thành và phát triển của tính hiện đại trong toàn bộ lịch sử triết học phương Tây và là tác phẩm được nhiều triết gia tên tuổi trên thế giới trích dẫn trong khi bàn luận về lý thuyết phê phán triết học.
[3] Hiện đại – một dự án bất tận là một trong những tiểu luận quan trọng của Jürgen Habermas  - một trong những triết gia lớn của thế kỷ 20. Tiểu luận là một phác thảo tổng quan của tác giả về phê phán tính Hiện đại dựa trên lập trường của Chủ nghĩa Hậu hiện đại. Trong tiểu luận này, Jürgen Habermas đề cập tới nhiều vấn đề, trong đó, ông xem nghệ thuật là cái cuối cùng còn giữ lại nhưng nét đặc trưng của một thứ lý tính cá biệt tuyệt đối, là nơi tập trung các nguyên tắc cao nhất của tự do sáng tạo. Xin xem: Jürgen Habermas, Hiện Ðại - Một Dự Án Bất Tận. Bản dịch tiếng Việt của Trần Văn Đoàn.
Nguồn: http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/hiendai/hiendai1.htm
[4] Dẫn theo cách nói của A. Camus.
[5] Kể từ khi cuộc cách mạng tư sản nổ ra đầu tiên tại Pháp năm 1789, tinh thần “tự do – bình đẳng và bác ái” đã trở thành phương châm sống và là mục đích hướng đến của con người. Vì tự do và bình đẳng được con người xem như là một mưu cầu và là quyền cơ bản, cho nên nó đã góp phần phát huy tối đa khả năng trí tuệ của con người, tạo ra nguồn của cải xã hội vô cùng lớn. Kèm theo sự phát triển mạnh mẽ của đời sống vật chất thì một thế giới máy móc cũng được tạo ra và ngày càng được cải tiến đạt đến đỉnh cao của dây truyền công nghiệp sản xuất hiện đại. Con người hiện đại được giải phóng đôi tay ra khỏi sức nặng của lao động, nhưng lại trở thành nô lệ của máy móc về mặt tinh thần. Máy móc, công nghệ, ban đầu chỉ là công cụ được con người tạo ra nhằm gia tăng năng suất và chất lượng đời sống, nhưng sau đó, nó nhanh chóng lan toả sự ảnh hưởng sang tất cả các mặt của đời sống, đặc biệt và đời sống văn hoá và tinh thần. Sự trỗi dậy của công nghệ nghe nhìn đã ràng buộc con người vào các thói quen của một đời sống ảo. Con người dần thu hẹp sự ảnh hưởng của mình trong giao tiếp cộng đồng. Sự gắn kết xã hội giữa các thành viên bị đứt gãy, thay vào đó, con người đã chấp nhận lựa chọn lối sống đơn độc bên chiếc điện thoại thông minh hoặc bên các phương tiện truyền thông công nghệ cao. Con người “ít ngôn thoại” với xã hội hơn, thay vào đó, “đôi mắt” của họ làm việc nhiều hơn. Một thế giới ban đầu được tạo ra với mục đích khuyến khích con người hướng đến một đời sống tự do, bình đẳng bao nhiêu, thì giờ đây, trong đời sống máy móc, con người lại ít có khoảnh khắc được tự do là mình và bất bình đẳng trước kỹ thuật bấy nhiêu.
[6] Theo Tổ chức viện trợ và phát triển toàn cầu Oxfam đưa ra trong báo cáo mới nhất, thì:
Sự chênh lệch giàu nghèo ngày càng lớn. Tại nhiều nước, người giàu chỉ chiếm thiểu số trong xã hội nhưng lại có vai trò chính yếu định hình khối tài sản của một quốc gia và xu hướng này đang gia tăng, không chỉ tại các nước giàu mà cả các nước nghèo. Theo thống kê của Oxfarm, khu vực châu Phi cận Sahara, khu vực nghèo của thế giới, có tổng cộng 16 tỉ phú đô la bên cạnh 358 triệu người nghèo đói cùng cực. Khoảng cách giữa người giàu và người nghèo tại Nam Phi càng lớn do nạn phân biệt chủng tộc tại nước này. Tại Mỹ La-tinh, số tỉ phú tăng 38% trong một năm qua và tăng gần gấp đôi trong giai đoạn từ năm 2008-2014. Trong khi đó, khoảng cách giàu-nghèo khiến khu vực này tụt hậu nhiều thập kỷ trong cuộc đấu tranh xóa đói giảm nghèo. Oxfam cũng nêu rõ sự bất bình đẳng kinh tế bùng nổ khắp thế giới trong 30 năm qua là một trong những thách thức kinh tế, xã hội và chính trị lớn nhất trong thời đại, đòi hỏi các chính phủ và  tổ chức quốc tế hành động mạnh mẽ để đảo ngược tình thế này. Đầu năm nay, Oxfarm đã công bố báo cáo tựa đề “Làm việc cho thiểu số”, cho thấy bức tranh về khoảng cách giàu nghèo trên thế giới hiện nay,  đồng thời cảnh báo những rủi ro lớn mà sự chênh lệch giàu nghèo có thể đặt ra cho “tiến bộ nhân loại”. Dẫn theo Phúc Minh tại: “Khủng hoảng tài chính mở rộng khoảng cách giàu nghèo?”. Nguồn: http://www.thesaigontimes.vn/122200/Khung-hoang-tai-chinh-mo-rong-khoang-cach-giau-ngheo?.html.
[7] Chưa khi nào, tình trạng bạo lực lại xảy ra thường xuyên và đẫm máu như trong xã hội hiện đại thuộc thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21. Hàng chục triệu người chết trong thế chiến 1 và 2 thuộc thế kỷ 20; và hàng trăm nghìn người bị hành quyết hoặc bị tàn sát trong các cuộc bạo loạn của phiến quân…là những con số nói lên sự tàn bạo, cũng như “Bản năng gây chiến” của con người trong xã hội công nghiệp và hậu công nghiệp. Ngày nay, mỗi sáng, chỉ cần một click đơn giản trên hệ thống các website báo Online, chúng ta cũng có thể dễ dàng bắt gặp các thông tin rợn người về những vụ “hành quyết” giữa người với người. Dường như, chủ đề “giết người” đã trở thành một mục không thể thiếu trong các bản tin thường nhật. Con người hiện đại đang tự tà sát lẫn nhau và huỷ diệt nòi giống của nhau.
[8] Câu chuyện nhà nước ISIS là một ví dụ điển hình của cuộc đụng độ giữa phe phiến quân và các “ông chủ” tư bản. Những tổ chức khủng bố lớn nhỏ ra đời trước đó, như: Lực lượng vũ trang cách mạng Colombia, tổ chức Hamas, PKK (Đảng Công nhân người Kurd), Al Shabaab, Ku Klux Klan, Jabhat al-Nusra, Taliban…, và đặc biệt là Al-Qaeda như là một “cực quyền lực nóng” của thế giới, được lập nên nhằm mưu đồ viết lại lịch sử của Tiến bộ, của Tự do, Bình đẳng và Bác ái mang màu sắc bạo lực.
[9] Nhóm liên minh G8 và Nhà trắng (Mỹ) luôn nhân danh con người, nhân danh Tiến bộ, Tự do và nhân quyền để thực hiện các cuộc công kích vào các quốc gia mà họ cho là đang nuôi dưỡng mầm mống của chủ nghĩa khủng bố, nhưng kỳ thực, các cuộc tấn công của họ chủ yếu nhằm vào dân thường và các khu dầu mỏ đã cho thấy “một Thiên đường tàn bạo” khác đã được dựng lên bên trên một “thiên đường giả hiệu” của những Ông chủ Tư bản thế giới. Những tuyên bố của chính quyền nhà trắng trong lịch sử chính trường Mỹ dường như là minh chứng rõ nét nhất cho cái gọi là độ kênh giữa lời nói với hành động của các đời tổng thống.
(Xin tham khảo thêm bài viết: “30 năm qua, Mỹ đã tấn công những quốc gia nào?”. Nguồn: http://www.vietnamplus.vn/30-nam-qua-my-da-tan-cong-nhung-quoc-gia-nao/218547.vnp)
[10] Trong tác phẩm kinh điển Also sprach Zarathustra (Zarathustra đã nói như thế) được viết vào năm 1883, thông qua hành động lập ngôn của nhân vật Zarathustra, Nietzsche đã góp phần xây dựng nên “lý thuyết siêu nhân” trong triết học. Siêu nhân theo Nietzsche là những con người biết vượt qua chính mình bằng tri thức, dám hiểu biết, dám mang theo chiếc búa để “đập vỡ” các tượng đài về tri thức, hạ bệ các huyền thoại tư tưởng xuất hiện trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Nhiều triết gia lớn như Socrates, Plato, Hégel…, là những “thần tượng” về tư tưởng bị Nietzsche hạ bệ dưới “cây búa” triết học của ông. Lý thuyết siêu nhân của Nietzsche, sau đó đã bị Adolf Hitler lợi dụng để củng cố sức mạnh quyền lực của chủ nghĩa Phát Xít Đức, tiến hành các cuộc thảm sát kinh hoàng, giết hại hàng triệu người vô tội, trong đó chủ yếu là người Do Thái – Giống nòi tiêu biểu cho sự thông minh ưu trội của con người trên trái đất.
[11] Trong bộ phim The Great Dictator vua hài Charles Chaplin đã cảnh báo đối xã hội loài người hiện đại về sự thống trị của máy móc và tình trạng vô cảm, rằng:
 “Tôi xin lỗi nhưng tôi không muốn làm hoàng đế các bạn - đó không phải chuyện của tôi. Tôi không muốn ra lệnh hay chế ngự ai. Tôi chỉ muốn giúp mọi người nếu có thể, Do Thái, ngoại đạo, da đen, da trắng... Tất cả chúng ta đều muốn giúp một người khác, con người là thế đó. Chúng ta muốn sống vì niềm vui của người khác, không phải những khổ đau của họ. Chúng ta chẳng muốn ganh gét và khinh thường người khác. Thế giới này có đủ chỗ cho mọi người và trái đất màu mỡ có thể cung cấp đầy đủ cho mọi người. Cuộc sống có thể được tự do và tươi đẹp. Nhưng chúng ta đã lạc lối. Lòng tham đã đầu độc tâm hồn con người. Đã cản trở thế giới bằng ganh ghét. Đã diễu hành chúng ta đi vào đau thương và đổ máu. Chúng ta phát triển tốc độ nhưng chúng ta đã khép kín chính mình lại. Những cỗ máy cho ta của cải dư thừa nhưng chúng ta vẫn còn tham lam. Kiến thức làm chúng ta thích mỉa mai nhau. Thói khôn lanh của chúng ta cứng nhắc không tốt lành. Chúng ta suy nghĩ quá nhiều nhưng cảm nhận quá ít. Hơn những cỗ máy chúng ta cần tình người. Hơn thói khôn lanh chúng ta cần tử tế và hòa nhã”
(Nguồn: http://amara.org/en/videos/inCPrdWkipIf/vi/185138/)
 Với những gì mà loài người đang phải chứng kiến ngày nay đã minh chứng cho tính đúng đắn trong “thông điệp mang ý nghĩa tiên tri” mà Vua hài của nhân loại đã đặt ra vào năm 1939.
[12] Xin xem: E. Fromm (2007). Trốn thoát tự do. Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội.
[13] Lý trí hiện đại thường đề cao các phạm trù mang ý nghĩa phổ quát, toàn trị. Những ý niệm phổ quát đó có thể là các học thuyết triết học như: Chủ nghĩa Marx, Triết học Phật Giáo, thần học triết học Ki Tô…, hoặc là học thuyết chính trị như: Chủ nghĩa Stalin, Chủ nghĩa Mao Trạch Đông, chủ nghĩa Phát Xít… Dưới nhãn quan của các triết gia hậu hiện đại thì các ý niệm phổ quát ấy được gọi là các Đại tự sự, và họ yêu cầu con người cần phải “đả phá” các đại tự sự đó
[14] Lý trí hậu hiện đại đề cao trí tuệ của từng cá thể nổi trội, vì vậy loại lý trí này thường tồn tại dưới dạng các quan điểm hoặc các luận thuyết trong một hoặc một vài lĩnh vực nhất định, nó không mang tính chất phổ quát hoặc tính toàn trị. Các nhà Hậu hiện đại gọi loại lý trí này là các “Tiểu tự sự”, vì vậy, dưới nhãn quan của họ, các cuốn sách dạy nấu ăn hay sách dạy chăm sóc thú vật cũng là những tự sự biểu hiện cho sức mạnh của lý trí cá nhân.
[15] Khai hoá (tiếng Pháp: Civiliser) là thuật ngữ do các nhà thực dân chủ nghĩa tạo ra, nhấn mạnh đến vai trò “mở mang văn minh” của quốc gia tiến bộ đối với các nước thuộc địa. Vì vậy, khai hoá là một động thái tiêu cực, lợi dụng “Khai sáng” (tiếng Pháp: Les Lumières) như là bức bình phong nhằm hợp thức hoá quá trình khai thác thuộc địa của “nhà nước bảo hộ”. Khai hoá, do đó, thực chất là hành động Nguỵ- Khai sáng, nhằm áp đặt “sự phân biệt” về trình độ dân trí giữa “nhà nước bảo hộ” đối với “nhà nước bị bảo hộ”. Vì vậy, thực dân Pháp trong quá trình khai thác thuộc địa tại Việt Nam đã gọi Việt Nam lúc đó là Annam mít (tiếng Pháp là: Annamite), có ý phân biệt giữa một xã hội văn minh và một dân tộc lạc hậu, chưa được khai sáng.
[16] ISIS là tên viết tắt của Tổ chức “Nhà nước Hồi giáo Iraq và vùng Cận đông” (Islamic State of Iraq and al-Sham). Đây là một trong những tổ chức khủng bố bạo tàn nhất trong thế giới ngầm. Nhà nước này được thành lập nhờ sự chống lưng của Mỹ dưới cái tên IS (Nhà nước hồi giáo: Islamic State), tuy nhiên, theo một học giả thì IS là thuật ngữ có xuất xứ chính từ Saudi Arabia, với ý nghĩa ám chỉ “một cuộc “hôn nhân” vụ lợi giữa quyền lực chính trị và tôn giáo”. Sau đó IS đã “phản bội” lại ý định của Mỹ, tách ra trở thành tổ chức độc lập mang tên ISI (Islamic State of Iraq - Quốc gia Hồi giáo Iraq) để chống lại chính phủ Iraq và dòng Hồi giáo Shia (thân Mỹ). Từ Iraq, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tại Syria, ISI đã lan rộng ra toàn bộ khu vực Trung cận đông và chính thức đổi tên thành ISIS. Sự ra đời của tổ chức này nhằm hai mục đích chính: “Vừa tiếp tục được lý tưởng thống nhất cộng đồng Hồi giáo (dòng Sunni) khắp thế giới, dưới một thể chế chung hiện hữu (kết hợp tôn giáo với chính quyền), vừa “chuyển hóa” kẻ thù từ chính phủ Iraq dòng Shia dưới sự hậu thuẫn của Mỹ, sang chính quyền Hồi giáo Shia của Syria”. Từ đó đến nay, ISIS với những hành động tàn bạo đã trở thành đối tượng chính cần loại bỏ của chính quyền Obama và Nhóm liên minh G8.
[17] Theo từ điển Wattpad thì Cách mạng xã hội (Social Revulation) có hai nghĩa:
Theo nghĩa rộng, cách mạng xã hội là sự biến đổi có tính chất bước ngoặt và căn bản về chất trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, là phương thức thay thế hình thái kinh tế - xã hội lỗi thời bằng hình thái kinh tế - xã hội cao hơn. Theo nghĩa hẹp, cách mạng xã hội là việc lật đổ một chế độ chính trị đã lỗi thời, thiết lập một chế độ chính trị tiến bộ hơn. Dù theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, thì giành chính quyền vẫn là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội”. Nguồn:http://www.wattpad.com/84394-kh%C3%A1i-ni%E1%BB%87m-c%C3%A1ch-m%E1%BA%A1ng-x%C3%A3-h%E1%BB%99i
[18] Theo từ điển Bách khoa mở Wikipedia thì Cách mạng khoa học (scientific revolution) có nguồn gốc hình thành và ý nghĩa như sau:
Trong lịch sử khoa học, cuộc cách mạng khoa học là một giai đoạn phát sinh nhiều ý tưởng mới về vật lý, thiên văn học, sinh học, giải phẫu học con người, hóa học, và các ngành khoa học khác dẫn tới sự loại bỏ các chủ nghĩa học thuyết đã được đưa ra từ thời Hy Lạp cổ đại đến thời Trung cổ, và đặt nền móng cho khoa học hiện đại. Theo các học giả nổi tiếng, cách mạng khoa học bắt đầu từ việc xuất bản hai công trình làm thay đổi diện mạo của khoa học vào năm 1543 và tiếp tục ảnh hưởng cho đến cuối thế kỷ 17: Công trình của Nicolaus Copernicus là De revolutionibus orbium coelestium (On the Revolutions of the Heavenly Spheres) và công trình của Andreas Vesalius: De humani corporis fabrica (On the Fabric of the Human body). Nhà triết học và sử gia Alexandre Koyré đã đặt ra thuật ngữ Scientific Revolution (cách mạng khoa học) vào năm 1939 để mô tả giai đoạn này. Ý nghĩa của cuộc Cách mạng khoa học là nhằm: Tạo nên sự biến đổi triệt để về chất của lực lượng sản xuất, biến khoa học kỹ thuật thành nhân tố chủ đạo của sự phát triển nền sản xuất xã hội, thành lực lượng sản xuất trực tiếp, dẫn đến sự biến đổi cách mạng trong cơ sở vật chất kĩ thuật của xã hội, trong tính chất và phân công lao động xã hội. Cách mạng khoa học – kỹ thuật tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, đòi hỏi ngày càng nâng cao trình độ học thức chuyên môn, trình độ văn hoá, tổ chức, làm thay đổi thói quen, tập tục lỗi thời; thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế, văn hoá xã hội”.
(Nguồn:http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1ch_m%E1%BA%A1ng_khoa_h%E1%BB%8Dc)

[19] Xem: Walter Benjamin. “Nhiệm vụ của dịch giả”. Bản dịch của Cao Việt Dũng. Nguồn: www.triethoc.edu.vn